Tour du lịch | Event | Vé máy bay | Tàu hỏa | Xe du lịch | Khách sạn | Hướng dẫn viên | Visa | Liên hệ  
 
Trang chủ
Tin tức
Danh bạ nhà hàng
Địa danh
54 Dân tộc Việt Nam
63 Tỉnh thành
Ẩm thực
Lễ hội
Cần biết khi đi tour
Hình ảnh
xe du lich tet
xe du lich tet
xe du lich tet
ĐỊA DANH DU LỊCH TRÀ VINH - ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH TRÀ VINH

Trà Vinh là tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam.
Trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Trà Vinh, nằm trên Quốc lộ 53, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km. Thành phố Trà Vinh có quyết định thành lập trên cơ sở thị xã Trà Vinh từ tháng 3 năm 2010
Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long; vị trí địa lý giới hạn từ 9°31'46" đến 10°4'5" vĩ độ Bắc và từ 105°57'16" đến 106°36'04" kinh độ Đông.
Phía bắc Trà Vinh giáp với Bến Tre, phía nam giáp Sóc Trăng, phía tây giáp Vĩnh Long, phía đông giáp biển với chiều dài bờ biển 65 km
Trà Vinh có diện tích tự nhiên 2.215,15 km² (tương đương 221.515,03 ha) - số liệu 2003, chia ra như sau:
Đất ở: 3.151,36 ha
Đất nông nghiệp: 180.004,31 ha
Đất lâm nghiệp: 6.080,20 ha
Đất chuyên dùng: 9.936,22 ha
Đất chưa sử dụng: 22.242,94 ha
Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo bình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn.
Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Riêng phần phía nam tỉnh là vùng đất thấp, bị các giống cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-0,8 m nên hàng năm thường bị ngập mặn 0,4-0,8 m trong thời gian 3-5 tháng.
Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km, trong đó có các sông lớn là sông Hậu, sông Cổ Chiên và sông Măng Thít. Các sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa sông chính là cửa Cổ Chiên hay còn gọi là cửa Cung Hầu và cửa Định An.
Biển Trà Vinh là một trong những ngư trường lớn của Việt Nam với trữ lượng 1,2 triệu tấn hải sản các loại, cho phép đánh bắt 63 vạn tấn/năm
Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những thuận lợi chung như: có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định, Tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như: gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít.
Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 26,6 °C, biên độ nhiệt giữa tối cao: 35,8 °C, nhiệt độ tối thấp: 18,5 °C biên độ nhiệt giữa ngày và đêm thấp: 6,4 °C. Nhìn chung nhiệt độ tương đối điều hòa và sự phân chia 4 mùa trong năm không rõ chủ yếu 2 mùa mưa, nắng.
Ẩm độ trung bình cả năm biến thiên từ 80-85%, biến thiên ẩm độ có xu thế biến đổi theo mùa; mùa khô đạt: 79%, mùa mưa đạt 88%.
Tổng lượng mưa từ trung bình đến thấp (1588-1227 mm), phân bố không ổn định và phân hóa mạnh theo thời gian và không gian. Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở Càng Long, Trà Vinh; thấp nhất ở Cầu Ngang và Duyên Hải.
Về thời gian mưa, có 90% lượng mưa năm tập trung vào mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Càng về phía biển, thời gian mưa càng ngắn dần tức là mùa mưa bắt đầu muộn nhưng kết thúc sớm. Huyện có số ngày mưa cao nhất là Càng Long (118 ngày), Trà Vinh (98 ngày); thấp nhất là Duyên Hải (77 ngày) và Cầu Ngang (79 ngày).
Hạn hàng năm thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục 10-18 ngày. Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn. Huyện Tiểu Cần hạn đầu vụ (tháng 6, 7) là quan trọng trong khi các huyện còn lại: Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ (tháng 7, 8) thường nghiêm trọng hơn.
Hiện nay Trà Vinh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thành phố Trà Vinh và 7 huyện với 94 xã, phường và thị trấn.
Dân số: 1.000.933 người
Trên địa bàn Trà Vinh có 29 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh (69%) và người Khmer (29%).
Dân số Trà Vinh chiếm 5,99% Đồng bằng sông Cửu Long (theo điều tra dân số năm 2000), trong đó hơn 87% sống ở khu nông thôn. Mật độ dân số 414 người/km², tỷ lệ tăng dân số năm 2000 là 1,65.
Theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, trên địa bàn Trà Vinh có trên 290,9 nghìn người Khmer, chiếm 30,1% dân số toàn tỉnh và chiếm 27,6% số người Khmer của cả nước.
Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer có nền văn hóa dân tộc đặc trưng: tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù

LỊCH SỬ
Thời nhà Nguyễn, Trà Vinh là tên 1 huyện (trước đó là phủ) thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long (được lập ra năm 1832).
Năm 1876, Pháp chia tỉnh Vĩnh Long cũ thành 3 tiểu khu (hạt tham biện): Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.
Trà Vinh được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province), kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Như vậy Trà Vinh là 1 trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Dưới thời Pháp thuộc, Trà Vinh gồm 8 quận: Càng Long, Cầu Ngang, Cầu Kè (ban đầu thuộc tỉnh Cần Thơ, sau nhập vào tỉnh Vĩnh Long rồi Trà Vinh), Châu Thành, Long Toàn (nay là huyện Duyên Hải), Tiểu Cần, Trà Cú và Trà Ôn.
Ngày 27/6/1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà. Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống ngày 22 tháng 10 năm 1956.
Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.
Tháng 2/1976 Trà Vinh hợp nhất với Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long và cho đến ngày 26-12-1991 mới tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Trà Vinh có diện tích 2363,03 km², dân số 961.638 người, gồm thị xã Trà Vinh và 7 huyện như hiện nay.

KINH TẾ

Kinh tế chủ yếu dựa vào chăn nuôi, và trồng trọt. Thu nhập bình quân rất thấp. 50USD/người/tháng. Hiện tại tỉnh đang đầu tư vào hạ tầng cơ sở ở khu công nghiệp Long Đức nhằm thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp. Với mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động. Chủ yếu từ các ngành nghề như: may mặc, giày da, và các mặt hàng thủ công, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng.


--------------------------------------------------------------------------------

BIỂN BA ĐỘNG TRÀ VINH
"Biển Ba Động nước xanh cát trắng. Ao Bà Om thắng cảnh miền Tây. Xin mời du khách về đây. Viếng qua sẽ biết chốn này thần tiên". Theo câu hát đó hãy đến Ba Động, (xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, Trà Vinh) thưởng thức ngọn gió chướng đang về.
Một khu vực được bao bọc bởi các bãi biển thật độc đáo. Chính vì thế mà Ba Động (một trong 3 bãi biển tắm hiếm hoi ở đồng bằng sông Cửu Long bên cạnh Tân Thành - Tiền Giang; Hà Tiên - Kiên Giang) ngày càng thu hút du khách.
Đến Ba Động, ngoài việc được hít thở không khí trong lành, bạn còn đi thăm một số địa danh nổi tiếng trong sách địa lý: cửa Cung Hầu (tiếp giáp tỉnh Tiền Giang), cửa Định An (tiếp giáp tỉnh Sóc Trăng). Ba Động còn có nhiều nhà thờ được xây vào thời Pháp thuộc rất đẹp như: Giồng Rùm, Phước Hảo...
Hiện nay, khi đến Ba Động, ngoài việc tắm biển bạn có thể đi tham quan các khu rừng ngập mặn, hòa nhập vào cuộc sống của các ngư dân như ra khơi đánh cá, leo lên cột đáy hàng khơi "thưởng thức" cuộc sống chòng chành trên sóng nước...
Rồi khi đêm xuống, bạn sẽ ngủ trong căn "nhà âm" - một loại nhà độc đáo thời chiến tranh. Những động cát dài, trên "lưng" mọc đầy những cây nga, cây chà là um tùm, ẩn chứa trong lòng nó những căn phòng vừa ấm áp trong những ngày đông lạnh, vừa mát mẻ vào mùa hè oi bức.
Cùng với Ba Động, Trà Vinh còn có thắng cảnh ao Bà Om rộng hàng chục hecta. Đi xuyên qua những hàng cây khoe những bộ rễ hình thù kỳ thú, là các con đường cát quanh co, uốn khúc lên đồi xuống dốc một cách thú vị.
Chính vì thế mà người ta đã gọi nơi đây là "Đà Lạt của đồng bằng sông Cửu Long". Bên cạnh ao là chùa Âng và Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khơ-me, một khu du lịch văn hóa liên hoàn nổi tiếng của Trà Vinh.
Đến đây bạn còn được thưởng thức những món ăn đa dạng, đầy ấn tượng như bún nước lèo, canh xim lo bình bát...


--------------------------------------------------------------------------------

THẮNG CẢNH BÀ OM TRÀ VINH
Cảm giác đầu tiên khi tới thăm ao Bà Om là sự mát mẻ trước cảnh trời nước xanh biếc một màu. Hai hàng cây phía ngoài và sát cạnh ao cách nhau một khoảng rộng, tạo thành con đường rợp bóng. Cây lá dưới nước xanh rờn như đua sắc với trời thu.
Ao hình chữ nhật, rộng chừng 10.000 m2, nằm ở xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành, thị xã Trà Vinh. Những cây sao, cây dầu và đôi ba cây me vây quanh ao tạo thành đường viền thẳng vút lên trời. Hiếm nơi nào có cây sao như ở Trà Vinh, thân mốc xám, thẳng tắp, lá nhỏ, tán không rộng nhưng được ken dầy.
Gần ao có chùa Âng hay còn gọi là chùa ao Bà Om. Tại đây, cũng như hàng trăm ngôi chùa Khơ Me khác ở Trà Vinh, người ta hành lễ vào tháng 8 âm lịch theo ba bước. Bước thứ nhất gọi là Kan-banh, bắt đầu từ ngày 1 đến ngày 14. Bà con đem đồ cúng vào chùa để các nhà sư làm nghi thức lễ hội. Ngày cuối cùng của Kan-banh, mỗi gia đình đều gói bánh tét, bánh chuối, bánh ít để cúng chùa, cúng ông bà và tặng những người thân thích.
Bước thứ hai, đúng vào ngày rằm tháng 8 âm lịch, gọi là Phchubanh. Người ta chuẩn bị rất chu đáo các lễ vật đem lên chùa. Đến trưa, sau khi dâng cơm sư sãi, họ làm lễ rước vong hồn linh thiêng của ông bà, cha mẹ về nhà để gần gũi con cháu.
Bước thứ ba là lễ cúng đưa. Bà con dọn cơm cúng, khấn vái xong, để thức ăn đồ uống vào chiếc xuồng làm bằng bẹ chuối thả xuống mương rạch gần nhà để ông bà đem theo. Sau đó, mọi người tiếp tục vui chơi.
Ao Bà Om rợp bóng cây cùng với chùa Âng liền đó tạo thành khu vực lễ hội quen thuộc của bà con quanh vùng và là khu du lịch hấp dẫn ở cửa ngõ thị xã Trà Vinh.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA ÂNG TRÀ VINH
Chùa Âng là một trong những ngôi chùa cổ nhất trong hệ thống chùa Khmer ở Trà Vinh.
Chùa cách Trung tâm thị xã Trà Vinh 7 km, ẩn mình trong rừng cây cổ thụ của ao Bà Om. Chùa toạ lạc trên khu đất rộng 4 ha, thuộc ấp Tù Cụ, xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành. Chùa có kiến trúc cổ, độc đáo, hài hoà trong cảnh sắc thiên nhiên.
Chùa Âng đã được bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích văn hoá của quốc gia


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA HANG TRÀ VINH
Trà Vinh, thị xã nhỏ ở nơi cuối đường, bình lặng nhưng không thiếu thắng cảnh. Có thể kể bãi biển Ba Ðộng, ao Bà Hom, nhà thờ cổ Vĩnh Kim... Và đừng quên nơi đây là xứ sở của các chùa Miên, chỉ tỉnh Trà Vinh thôi đã có 143 chùa, trong đó chùa Hang là một trong những chùa đẹp nhất.
Chùa cách thị xã 6 cây số, qua cống ngăn mặn Tầm Phương là đến. Khuôn viên chùa rộng đến 12 mẫu, thật thú vị khi một nửa diện tích này là rừng tự nhiên, cây cao rậm rạp, chim chóc được một chỗ trú ẩn an toàn dưới bóng từ bi. Cổng du khách thường vào ở ven tỉnh lộ 36 chỉ là cổng phụ, xây dựng vòm cuốn, tường rất dày, cái cổng đặc biệt này là nguồn gốc của tên chùa Hang. Cổng chính hướng ra phía bờ sông, tên chính thức của chùa là Kompong Chrây, nghĩa là "Bến cây đa". Hai bên cổng chính hai tượng Yak to bằng người thật. Yak là chằn tinh, mắt lồi, nanh dài, mặt áo giáp, cầm gậy, rất hung ác nhưng được Phật cải hóa, cho làm bảo vệ
Ðứng trong sân chùa không khỏi có cảm giác như đây là cảnh "ngoại" vì mọi thứ đều lạ lùng. Ngôi chùa vươn lên cao với bộ mái nhiều tầng kiểu Khmer sặc sỡ khác hẳn các chùa làng Việt vốn khiêm tốn giản dị. không gian lại vắng lặng không tiếng chuông mõ quen thuộc. Tất nhiên cảm giác lạ lùng chỉ có với du khách người Việt, còn người Miên, ngôi chùa là nơi vô cùng thân thuộc. Vai trò của chùa trong sóc (làng) rất quan trọng, nhà chùa đảm nhiệm cả phần giáo dục đạo đức, bảo tồn truyền thống văn hóa nghệ thuật. Thanh niên Miên có vài năm tu ở chùa mới kể như thành nhân, một điều kiện để dễ kiếm vợ. Trong khuôn viên chùa có trường học cho trẻ em rất qui mô. Lại có khoảng hai chục nhà sàn nhỏ, mỗi nhà chỉ vừa đủ chỗ cho một người. Lâu lâu cánh đàn ông Miên vào mỗi người một nhà, ở lại cả tháng để cầu nguyện và làm trong sạch linh hồn. Người Miên ở Trà Vinh sống đơn giản, ít tham vọng, nhà ở rất đơn sơ nhưng chùa phải kiên cố, to đẹp; có vẻ như hệ tư tưởng Phật giáo đã nhập tâm sâu đậm, sự giải thoát quan trọng hơn kiếp người.
Chùa Hang đã có hơn 350 tuổi, thăng trầm nhiều bận. Trước kia, chùa có tên chùa Dơi vì sân chùa có đàn dơi đông vô kể, Tết Mậu Thân (1968) một quả bom rơi trúng chùa, 62 người chết, 57 người bị thương, chùa hư hại nặng, đàn dơi khiếp đảm bay mất. Ngày nay đàn cò đã trở về cả ngàn con, mỗi chiều đậu trắng cây, có ngày chùa nhặt vài chục cò con, các sư nuôi cho cứng cáp rồi thả. Chỉ riêng đàn dơi là mất tích hẳn.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA CHIM - CHÙA NODOL TRÀ VINH
về thăm chùa Chim - chùa Nodol của đồng bào Khmer Nam bộ. Xung quanh chùa là các rặng tre già và tiếp nối là những rẫy đậu, khoai lang. Năm nay huyện Trà Cú trúng mùa rẫy.
Giữa hai hàng sao, dầu cổ thụ, đây đó thấp thoáng bóng áo vàng của các Lục nhất, Lục nhì.
- Tại sao lại gọi là chùa Chim, thưa thầy? Tôi hỏi một vị sư cả.
- Vì ở đây từ bao đời nay, xung quanh chùa luôn có hàng ngàn con chim lớn, nhỏ cư ngụ. Chim đã chọn chùa làm nơi cư trú, sinh con đẻ cái. Lớn lên ra các rẫy màu, về già lại treo xác trên bụi tre già để gởi thân lại nhà chùa.
Chùa Nodol là một ngôi chùa Khmer cổ và lớn ở Trà Vinh. Chùa nằm trên diện tích gần 3 ha, được xây dựng từ rất lâu đời, đến nay ngay cả các cụ cao niên cũng không ai nhớ là vào năm nào. Xung quanh chùa, từ nhà chánh điện đến các khu sinh hoạt, nơi ăn ở của các vị sư, các loại chim đậu kín mái nhà. Ở đây, chim và người là bạn của nhau, chim không sợ người. Nếu leo lên nóc tầng thượng dãy nhà nghỉ các vị Tỳ kheo, sa-di, chỉ vài thước cách chỗ đứng là đã đụng phải tổ chim treo đầy trên các bụi tre già. Đông nhất vẫn là cò: cò trắng, cò quắm, cò mỏ vàng, cò mỏ đen, cò mỏ trắng. Các loại chim khác như cưỡng, sáo, bồ nâu cũng chung sống bình yên với cò. Sáng sáng, từng đàn cò lại lặn lội đi kiếm ăn, có con đi xa đến vài chục km. Cò mẹ nào đang nuôi con mới nở thì mới luẩn quẩn ở nhà. Từ 8-9 giờ sáng, nếu chú ý kỹ trong không gian tĩnh mịch của nhà chùa ríu rít tiếng chim non, không thể đếm xuể các tổ chim của chùa. Chỉ riêng rặng tre dài gần nửa km phía Đông một khoảng ngắn đã tới vài chục tổ.
Giữa khung cảnh chùa tĩnh mịch, tiếng đọc kinh hòa lẫn với tiếng chim chóc nghe như một bản hoà tấu. Cũng lạ, Trà Vinh có 140 ngôi chùa lớn nhỏ mà chim chóc chỉ chọn mỗi một ngôi chùa này để sinh sống. Giải thích cho tôi thắc mắc này, vị sư cả cho biết - ngoài cảnh quan tĩnh mịch nhiều cây cối ra, nhân dân ở đây rất yêu quý và bảo vệ chim, ngay cả các em nhỏ cũng không săn bắt hoặc phá tổ chim. Do vậy chúng an phận gởi mình vào cõi Phật và hoà quyện với khung cảnh thanh bình của cây cối. Chim ngày một sinh sôi, nảy nở, đàn đàn, lớp lớp về đây chung sống. Chỉ thấy mỗi lúc chim lại tụ đông hơn. Nhiều loại chim quý hiếm cũng chọn cảnh tĩnh mịch của chùa để làm nơi dừng chân cuối cùng trong cuộc đời của mình.
Trưa tháng mười nắng nhè nhẹ. Du khách đi qua đến đường lớn, vẫn ngoảnh lại nhìn khu chùa đầy tiếng chim chóc. Đâu đó, những cánh cò trắng chao nghiêng đi về lặn lội tìm mồi cho con đang sải cánh trên những rặng tre già mát rượi. Và đâu đó, tiếng chim non đang ríu rít đón mồi… Ta nghe và ngẫm nghĩ về một sự sinh thành tụ hội, làm nên bức tranh bảo tàng chim độc nhất vô nhị này ở Trà Vinh và cả miền Tây Nam Bộ.


--------------------------------------------------------------------------------

DU LỊCH CẦU KÈ VÀNG TRÀ VINH
Từ xa xưa, cùng với Đại Ngãi (Sóc Trăng) và Trà Ôn, Cầu Kè (Trà Vinh) nổi tiếng khắp miền Tây Nam bộ với con cá cháy. Nhưng khi chúng trở thành "bóng chim tăm cá" thì địa danh này mất hút trong tâm trí những thế hệ sau. Lợi thế con cá cháy không còn, cộng với giao thông không thuận, Cầu Kè như chìm trong lớp bụi thời gian, "trữ lượng" du lịch của nó giảm và "vàng còn trong quặng".
Bây giờ, đến thị trấn Cầu Kè, bạn có thể theo đường thủy, từ thành phố Cần Thơ. Con đường bộ thì đi bằng ba ngã: Trà Vinh xuống, Trà Ôn qua và Cầu Vĩ tới. Đường nào cũng được trải nhựa phẳng phiu, uốn lượn qua những cánh đồng lúa, vườn cây ăn trái "nguyên sinh". Đến Cầu Kè vào dịp tháng bảy âm lịch, bạn sẽ tham dự Vu lan thắng hội tổ chức ở cả bốn chùa ông Bổn: chùa Giữa (Vạn Ứng Phong cung) trong các ngày 8, 9, 10; chùa Cây Xanh (Niên Phong cung) trong 2 ngày 15, 16; chùa Giồng Lớn (Minh Đức cung) ngày 19, 20 và sau cùng là chùa Chợ (Vạn Niên Phong cung) từ 25 đến 28. Lễ hội Vu Lan ở các chùa đều vui, nhưng rôm rả và đậm đà bản sắc dân tộc Triều Châu (Hòa) hơn hết là ở chùa Chợ (Vạn Niên Phong cung). Ở Cầu Kè, bạn có thể đi thăm các ngôi chùa Khmer hàng trăm tuổi. Như chùa Ô Mịch đang được Bảo tàng tỉnh Trà Vinh đề nghị là di tích lịch sử văn hóa. Còn chùa Tà Kháo (Giồng Lớn) hiện có tấm bảng đá có từ ngàn năm, cùng một pho tượng bằng đất sét cũng chừng ấy tuổi. Xứ này còn một giá trị nghệ thuật độc đáo ở mộ ông Hàm Huỳnh Kỳ, cách thị trấn Cầu Kè khoảng 4 km bên quốc lộ 54 về phía Hựu Thành (Vĩnh Long). Mộ nằm trên gò đất cao khỏi đầu người, được bao bọc bằng những tán xoài rậm rạp. Trong khuôn viên có một hồ nước trong xanh. Hai bên đường dẫn vào nhà mồ là hai hàng trụ đèn lồng thẳng tắp như hàng lính chào...
Rời mộ ông Hàm, bạn sẽ đến khu tưởng niệm Nguyễn Thị Út (Út Tịch, "Người mẹ cầm súng" nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Thi). Văn hóa kháng chiến ở Cầu Kè còn có Bác Sa Ma, nơi nổi tiếng trận đánh Pháp trong bài ca "Tiểu đoàn 307".
Trong tương lai, tour du lịch sinh thái cồn Tân Quy 2, xã An Phú Tân nằm giữa sông Hậu sẽ được hình thành. Đêm đêm, bạn vừa thư thả hưởng ngọn gió lồng lộng của sông Hậu còn thích thú nhìn những bầy đom đóm nhấp nháy trên các tán bần như những cây hoa đăng trong các đại tiệc. Tại đây, bạn sẽ được ăn đặc sản khu vực: cá dảnh, tôm càng xanh, cả điêu hồng, cá bông lau... bên cạnh việc thưởng thức những trái cây ngon ngọt nhiệt đới: chôm chôm, nhãn, sầu riêng, đặc biệt là măng cụt lưu niên. Cồn cũng là nơi tỉnh Trà Vinh chọn làm du lịch sinh thái, mà điểm chính được chủ tịch huyện Phan Hoàng Thọ "chấm" là nhà ông Út Nhiêu. Ở đây khách sẽ được ngủ trên chõng tre lên nước bóng ngời, được tham gia những buổi tát đìa, cắm câu, giỡ chà,... Hiện nay mỗi cuối tuần, nơi này đón tiếp nhiều bạn trẻ đến vui chơi, đặc biệt ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, khách ở tận Cầu Ngang cũng đổ về đây rất đông.
Đến Cầu Kè, bạn sẽ có dịp tham quan các con giống, nơi ngụ cư của những người Khmer. Các cuộc dâng bông, lễ hội hầu như diễn ra suốt năm. Múa nếp mỗi, tiếng chảo rang nếp cũng như tiếng chày giã cốm dẹp làm du khách nhớ mãi. Nhưng thú vị nhất là xem họ thả đèn gió. Những ngọn đèn sáng lơ lửng trôi trên không trung thật kỳ ảo và quyến rũ như sức quyến rũ của món ăn của họ: bún nước lèo, vừa ngon, vừa hợp vệ sinh. Miếng ngon ở Cầu Kè còn có trái quách, trái viết, dứa sáp, khoai lang Cây Xanh, xim-lo măng bình bát dây, canh lành canh, chuối tá quạ....
Đến nay du lịch Cầu Kè còn nằm trong dự án, nếu trở thành hiện thực đó là bước khai quật mỏ vàng du lịch phong phú của xứ sở con cá cháy. Cầu Kè sẽ trở lại phục vụ du khách bốn phương để làm sáng lên sắc vàng tiềm ẩn bấy lâu


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA CÒ TRÀ VINH
Chùa có tên Giông Lớn (thuộc địa phận xã Ðại An, huyện Trà Cú, nhưng dân gian quen gọi là chùa Cò vì có rất nhiều cò cùng với các loại chim khác đến đây cư trú. Từ vùng đất La Bang xã Ðôn Châu nổi tiếng với chiến công lẫy lừng của tiểu đoàn 307, ô tô chạy chừng mươi phút là tới Ðại An. Ngôi chùa Cò xinh đẹp tọa lạc trên diện tích chừng 5 ha, giữa một vườn cây xanh um tùm.
Từ ngoài đường cái đã nghe rộn vang hàng reo vui xao xác của cò cùng các loài chim. Cò đậu trên cây. Cò bay trên trời. Cò thản nhiên đi lại ngay trên đường bay dưới chân các bờ rào, bờ giậu. Những rặng tre trăm cây kẽo kẹt đung đưa dưới nắng điểm trắng những thân cò. Từ cổng ngách của chùa mở ra cánh đồng có tới hơn ba mươi tổ cò. Nhìn lên, sẽ thấy lũ cò con nhao đầu khỏi tổ lũ cò mẹ đang bay về, lũ cò bố lượn quanh ríu rít. Tiếng kêu xao xác bầu trời!
Chùa Giông Lớn được xây dựng từ năm 1677, tới nay đã có 13 nhà sư trụ trì. Vị sư trụ trì hiện tại có tên là Nhịp Thượng, đã 86 tuổi. Dưới nhà sư trụ trì có hai vị Cả Nhì. Tiếp đến là 21 vị Tuy Keo. Tiếp nữa là 15 vị Sa Nhi. Ðiện chính của chùa cổ kính, mang nét văn hóa truyền thống Khơ me với hình tượng các vũ nữ khỏe mạnh. Mặt trước và sau điện đều có những cây hoa chăm pa tạo vồng mâm xôi xếp hàng. Dạo quanh chùa, nghe xôn xao tiếng chim, tiếng gió, trước khung cảnh tôn nghiêm mà không cô liêu, thành kính mà vẫn gần gũi, du khách cảm thấy ấm áp và thư thái lạ thường. Một đàn bồ câu quẩn quanh chân. Một đàn cò thanh thản bay về. Một đàn vạc tung cánh bay đi. Rồi mồng két chớp cánh. Rồi sáo sậu chuyền cành. Rồi sẻ đá nhẩy nhót. Ai đã tới đây đều thấy người và cảnh chan hòa, bồng bềnh, khi hiển hiện ngay trước mắt lúc lại hư ảo như ở chốn bồng lai. Tôi bước vào quán nhỏ, trước cổng có cô bán hàng vui vẻ và một nhà sư sau này mới biết tu hành đã tới bậc Tuy Keo.
Vị Tuy Keo cởi mở giới thiệu với tôi về điện chính trang nghiêm, về Tịnh xá (có nghĩa như trường học) và Tha la, nơi đón khách thập phương về dự lễ hội có nhu cầu nghỉ lại. Thấy tôi thích cò, vị Tùy Keo cho biết: "Cò ở đây có từ lâu lắm rồi! Cò quăm là giống lớn nhất, có con nặng tới ba cân. Thứ đến cò giang. Thứ nữa là cò và. Ngoài ra còn có vạc cồng cộc mầu nâu đen, bồ câu, sáo, sẻ, mòng két. Ðặc biệt bồ câu ở đây là bồ câu tự do. Chúng có từ ngày tôi mới tới chùa và chỉ quanh quẩn ở đây chứ không đi đâu cả".

(Nguồn từ Internet)

Tin liên quan:
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ khách hàng
 
 Tel: 3995 1033 - 3995 1021
 Hotline: 0919.221.009
 Fax: (84-8) 3995 1024
 Emal: huutoan@saigontoserco.com
 ADD: 86/6 Thích Quảng Đức,P5,Q.PN
 
thue xe du lich 4 cho
thue xe du lich 7 cho
thue xe du lich 16 cho
thue xe du lich 25 cho
thue xe du lich 30 cho
thue xe du lich 45 cho
Địa chỉ: 86/6 Thích Quảng Đức, P.5, Q.Phú Nhuận, Tp.HCM.
Tel: (84.8)3995 1033 - 3995 1021 - Fax: (84.8)3995 1024
Hotline: 0919.221.009
Emal: info@saigontoserco.com
Copyright © SaigonToserco.com. All rights reserved.