Tour du lịch | Event | Vé máy bay | Tàu hỏa | Xe du lịch | Khách sạn | Hướng dẫn viên | Visa | Liên hệ  
 
Trang chủ
Tin tức
Danh bạ nhà hàng
Địa danh
54 Dân tộc Việt Nam
63 Tỉnh thành
Ẩm thực
Lễ hội
Cần biết khi đi tour
Hình ảnh
xe du lich tet
xe du lich tet
xe du lich tet
ĐỊA DANH DU LỊCH BẮC GIANG - ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH BẮC GIANG

Diện tích: 3.822km²
Dân số: 1.547.100 người (năm 2003)
Tỉnh lỵ: Thị xã Bắc Giang
Các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà.
Dân tộc: Việt (Kinh), Nùng, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Tày...
Bắc Giang là tỉnh ở miền trung du và giáp với châu thổ đồng bằng Bắc bộ. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và tây bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía nam và đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh. Địa hình gồm có đồng bằng, trung du, miền núi.
Khí hậu: chia làm 2 mùa: mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình năm 24ºC.
Bắc Giang là một vùng có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử như rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ, khu di tích Suối Mỡ, di tích thành Xương Giang... Nhiều hồ chứa nước lớn tạo nên phong cảnh kỳ vĩ, phát triển được tiềm năng du lịch như hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần.
Bắc Giang là một tỉnh vừa có truyền thống lễ hội văn hoá của đất Kinh Bắc, vừa có hội xuân của các dân tộc ít người.

--------------------------------------------------------------------------------

THÀNH PHỐ BẮC GIANG:
Là trung tâm hành chính của tỉnh Bắc Giang, nằm cách Hà Nội 50 km.
Thị xã Bắc Giang trở thành thành phố Bắc Giang theo Nghị định Chính phủ số 75/2005/NĐ-CP ngày 7 tháng 6 năm 2005. Hiện thành phố được xếp là đô thị loại III và đang phấn đấu để trở thành đô thị loại II vào năm 2010.
Khi thành lập, thành phố Bắc Giang có 32,21 km2 diện tích tự nhiên, 126.810 nhân khẩu, và có 11 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường: Trần Phú, Ngô Quyền, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ, Mỹ Độ, Trần Nguyên Hãn, Thọ Xương và các xã: Dĩnh Kế, Xương Giang, Đa Mai, Song Mai.

THỊ TRẤM KÉP BẮC GIANG:
Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 1A 20km là đến thị trấn Kép, thuộc đia phận tỉnh Bắc Giang.
Đây cũng là nơi gặp gỡ của tuyến đường sắt Hà Nội- Trung Quốc và tuyến Thái Nguyên- Hạ Long, và cũng là nơi giao lưu gặp gỡ của quốc lộ 1A và quốc lộ 37 từ Sao Đỏ đi Tuyên Quang.
Nơi đây trong thời kì chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược đã tồn tại một sân bay rất quan trọng của ta đó là sân bay Kép.

SÂN BAY KÉP BẮC GIANG
Là sân bay cấp II, thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang.
Sân bay Kép là một sân bay chiến đấu quan trọng của Việt Nam trong thời kỳ bảo vệ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ và trong cuộc chiến tranh với Trung Quốc năm 1979. Kép được xác định là một khu vực phòng thủ chiến lược. Trong thời kỳ này toàn bộ Bộ Tư lệnh quân đoàn 2 - Quân đoàn chiến lược hùng mạnh nhất của Việt Nam đã đặt trung tâm chỉ huy tại đây. Khu vực này được ví như một lá chắn phòng không cho Hà Nội từ phía Đông và phía Bắc với các trung đoàn pháo cao xạ và các trung đoàn tên lửa phòng không Volga. Hiện nay sân bay Kép đang được nâng cấp để có thể đáp ứng cho các nhu cầu cần thiết trong tương lai.


--------------------------------------------------------------------------------

KHU DU LỊCH SINH THAI SUỐI MỠ BẮC GIANG:
Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh địa phận xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, Bắc Giang. Quanh co theo triền núi, suối tạo ra vô số thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Dọc đôi bờ suối là cụm ba đền Hạ, đền Trung, đền Thượng thờ Quế Mị Nương con gái thứ mười của vua Hùng Đinh Vương. Theo truyền thuyết bà là người có công giúp dân chống hạn cho cả vùng Lục Nam. Chính nơi đây, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cùng các tướng lĩnh thân tín lập đại bản doanh để chặn đứng mũi tiến quân của bọn xâm lược Nguyên Mông từ Ải Chi Lăng, kéo về đánh chiếm Vạn Kiếp để từ đó tiến về kinh thành Thăng Long. Ðể ghi nhớ chiến công hiển hách này, người dân đã lập đền Trần tưởng nhớ ông , tại đây hiện còn khu di tích 3 dinh, 7 nền, bãi Quần Ngựa, đấu đong quân..
Phong cảnh hữu tình gắn với những dấu tích xưa cũ hàng ngàn năm lịch sử, Suối Mỡ đã cuốn hút hàng vạn du khách tới tham quan, làm lễ dâng hương vào độ xuân về.


--------------------------------------------------------------------------------

LÀNG GỐM THỔ HÀ BẮC GIANG:
Có hai thứ khiến mọi người nhớ đến xã Vân Hà (huyện Việt Yên, Bắ Giang) nhiều nhất là nghề nấu rượu làng Vân và làng gốm Thổ Hà.
Vì cả hai thứ này đã nổi tiếng khắp vùng và là nghề duy trì cuộc sống của người dân. Một ngày đông se lạnh, tôi tìm về làng gốm. Qua bến đò Thổ Hà dừng chân bên hữu ngạn sông Cầu, nơi con đò nhỏ đưa qua đất Thổ Hà, tôi đã cảm thấy được vẻ đẹp của sông nước, mây trời nơi đây. Sông Cầu thật êm ả, hiền hòa. Theo bia "Thủy tạo đình miếu" dựng năm 1692 có ghi "... địa hình sơn thủy, Thổ Hà eo ở phía đông giống như hình con rồng quay lại chầu chốn Tổ. Ở phía tây tựa hình con hổ ngồi chầu về tôn miếu. Ở phía nam thì đỉnh non nguyệt ghi rõ trong sách trời..." Phải chăng địa thế ấy đã giúp cho Thổ Hà trở thành một làng nghề thịnh vượng bậc nhất thời bấy giờ?
Theo gia phả làng nghề và những mẫu hiện vật khảo cổ được tìm thấy thì Thổ Hà là một trong những chiếc nôi của nghề gốm sứ. Sản phẩm của làng nghề đã có thời nổi danh khắp thiên hạ. Từ lúc có nghề gốm đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, cả làng chỉ sống bằng nghề gốm. Ðồ gốm Thổ Hà được nung ở nhiệt độ cao nên đã thành sành, gốm màu nâu sẫm, thâm tím đanh mặt, gõ trên gốm tiếng kêu coong coong như thép, mảnh gốm có cạnh sắc như dao, đựng chất lỏng không bao giờ thấm qua, đựng chất rắn đầy chặt không bao giờ ẩm mốc. Nhờ có nghề làm gốm mà cuộc sống của người dân trước đây hơn hẳn những nơi khác. Người Thổ Hà vắt đất nhào nặn thành nhiều mặt hàng, từ đồ nặn các cỡ, có thể chứa 350 lít nước, đến chĩnh chõ, chum, vại... mà nhiều làng nghề huyện Quế Võ khi đồ xôi cho hội xuân, nhất định phải có chõ sành của Thổ Hà mới ưng ý. Vì thế mà gốm của làng nổi danh khắp thiên hạ và kéo theo hẳn làng Vọng Nguyệt cùng xã chỉ chuyên làm thuê, chở hàng thuê cho làng.
Nghề làm gốm Thổ Hà xuất hiện từ thế kỷ XIV. Với địa thế thuận lợi là làng ven sông, nơi đây nhanh chóng trở thành một thương cảng gốm tấp nập của vùng Kinh Bắc. Sự hưng thịnh của nghề gốm đã giúp người dân xây dựng một quần thể kiến trúc đình chùa bề thế uy nghi.
Mất nghề, cả làng lao đao
Trong suốt quá trình phát triển, gốm Thổ Hà luôn đi đầu trong việc sản xuất đồ gốm gia dụng. Hầu hết các gia đình ở đất Bắc đều có một hoặc hai sản phẩm của làng trong nhà.
Sau miền Bắc giải phóng, làng nghề chuyển thành hợp tác xã, rồi thành xí nghiệp gốm Thổ Hà. Sản phấm chủ đạo là gốm sành các loại: chum, vại, ống máng nước...theo dòng sông Cầu toả đi khắp đất nước. Thế nhưng bước sang nền kinh tế thị trường, nghề làm gốm ở đây không còn trụ vững, chỉ còn một vài gia đìnn duy trì sản xuất, bởi sản phẩm không có nơi tiêu thụ. Đến năm 1992, nhà kho, xưởng gốm được thanh lý, nghề gốm Thổ Hà thực sự mất hẳn sau gần 6 thế kỷ tồn tại và phát triển.
Nhưng đến đầu những năm 90, cũng giống như bao làng nghề truyền thống khác, gốm Thổ Hà rơi vào tình trạng sản phẩm làm ra không bán được và mai một dần. Do thị hiếu, nhu cầu trên thị trường thay đổi mà những sản phẩm gia dụng không còn phù hợp. Sản phẩm làm ra cứ chất đầy sân, đầy nhà. Rồi không trụ được, cả xí nghiệp và hợp tác xã cứ tan rã dần. Và lò gốm ở đây ngừng đỏ lửa cho đến gần đây. Ông Nguyễn Bá Quyền, Trưởng thôn Thổ Hà ngậm ngùi nói: "Mất nghề đồng nghĩa với mất nghiệp. Từ lúc hình thành làng cho đến tận bây giờ, dân Thổ Hà không làm gì khác ngoài nghề gốm. Nay mất nghề cả làng lao đao. Vì cả làng không có lấy một tấc ruộng. Ðất ở thì khá chật hẹp bình quân mỗi nhà được hơn 50 m2. Mất nghề cũng đồng nghĩa với việc mất đi toàn bộ nguồn thu nhập. Sản phẩm làm ra không bán được, đành bỏ nghề để tìm kế sinh nhai...". Nói đến đây, ông Quyền buồn lắm, vừa vân vê điếu thuốc lào hút một hơi thật sâu để nén cái thở dài. Ông nói: "Hậu quả của việc mất nghề vẫn đeo đẳng người dân Thổ Hà đến ngày nay. Làng đã xoay đủ nghề nào là chạy chợ, làm miến dong, bánh đa nem... giật gấu vá vai vậy mà vẫn thiếu ăn...". Cả thôn có 3.248 khẩu thì có tới 70% là thiếu ăn. Cả làng đều trong tình trạng ăn đong".
Nghe ông Quyền đưa ra những con số não nề như vậy, tôi thấy lòng se lại và xót xa, tiếc nuối cho một làng nghề. Quá khứ vàng son năm xưa không phủ đầy và che lấp được chuyện cơm, áo, gạo, tiền hằng ngày của mỗi người dân làng nghề. Nói như các cụ trong làng thì "chum vại của làng đựng gạo thì được chứ đổi được gạo bây giờ thì khó lắm". Ði vòng quanh làng gốm, những dấu tích năm xưa vẫn còn đó. Cây đa, bến nước sân đình, ngôi chùa cổ... phần văn hóa vật chất vẫn còn lưu giữ được hoài niệm quá khứ, nhưng nó đang thiếu đi hơi thở của một thời hưng thịnh. Những ngõ dài hun hút hai bên tường còn đầy mảnh gốm cũ ghép lại. Trong cái môi trường chật hẹp ngột ngạt đến khó thở vì những phên bánh giăng nghẽn lối đi, cộng với chất thải từ chăn nuôi, người dân vẫn nuối tiếc cái không khí "trên bến dưới thuyền" ngày nào. Ðất chật, người đông, nghề mất, khiến cuộc sống của người dân làng gốm Thổ Hà trở nên vất vưởng. Khi tôi hỏi nghề gốm có phục chế được không thì ông Quyền như sực tỉnh cơn mê. Ông cho biết, hai năm qua, cả làng có ông Cáp Trọng Tuất đang tiến hành khôi phục lại nghề. Ðiều mừng hơn là mới đây, Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội về làng xin được phục chế nghề truyền thống. Nhiều đoàn khách Nhật Bản đã về thăm quan và họ rất thích nét cổ trong gốm Thổ Hà.
Giữa những lò than rực lửa chuyên tráng bánh đa nem, làm mỳ gạo của làng Thổ Hà, xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang, chúng tôi bất ngờ gặp một lò gốm chứa đầy sản phẩm đang nhả khói, hình ảnh mà chỉ cách đây hơn chục năm về trước mới thấy. Đó là lò gốm của một cựu chiến binh-ông Cáp Trọng Tuất, một người đã từng đảm nhiệm vai trò chủ nhiệm Hợp tác xã gốm Thổ Hà những năm 1957-1960.
Vừa vào tới sân nhà, tôi thấy ngỡ ngàng bởi có nhiều gốm mộc để đầy sân. Ông Tuất đang say sưa bên bàn xoay. Thấy khách đến nhà, ông vừa rửa tay, vừa tranh thủ thông báo luôn: "Cả làng đã tập trung được về đây gần chục tay nghề cự phách. Lúc đầu, làm cho đỡ nhớ nghề là chính. Ai dè vừa rồi Trường đại học Mỹ thuật về xin phục chế lại làng gốm. Có được duyên cớ này cũng từ những sản phẩm cổ của làng mà ra. Họ đến thăm đình và chùa của làng thấy những hiện vật như lư hương, bát hương cổ của làng có từ đời Lý mà hoa văn cũng rất đẹp. Họ rất thích. Sau khi xem xét kỹ, các cán bộ của Trường đã đưa ra lời đề nghị được khôi phục lại làng gốm".
“Để thất truyền nghề gốm là có lỗi với cha ông'. Đó là lời của ông Tuất. Và ý tưởng khôi phục lại nghề gốm của ông đã được những người bạn 'già' góp tiền lương hưu cùng làm. Rồi lò gốm cũng được xây xong, ông vận động những người biết nghề còn lại trong làng tham gia sản xuất. Tỉêu chí họ đề ra là tiếp tục làm các sản phẩm gốm sành truyền thống trong sự cách tân đảm bảo chất lượng cao; từng bước quảng bá giới thiệu sản phẩm trên thị trường trước khi sản xuất gốm mỹ nghệ tráng men. Lượt sản phẩm chủ đạo đầu tiên ra lò gồm: bát hương tạo hình cánh noa sen, tiểu quách có mái che, bộ trang trí trụ cổng có gắn đèn, be nậm rượu và đôn, chậu cảnh các loại... Đặc biệt, một số loại be nậm rượu đuợc phục chế từ nguyên mẫu be rượu cổ đuợc khách hàng từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Dịnh... về đặt mua với giá khá cao. Ông Tuất cho biết, bước đầu trung bìnn một lò cũng cho thu lãi từ 1,2- 1,5 triệu đồng. Đây quả là một sự khởi đầu hứa hẹn nhiều thành công.
Gốm của Thổ Hà để nghìn năm không bị mất màu và tự chảy ra men do kỹ thuật nung tốt. Ông Tuất vào buồng bê mấy bát hương giả cổ vừa cho ra lò. Ông nói: "Bước đầu làm ra bán được. Tất nhiên đây mới là bước thử nghiệm, nhưng có một điều tui khẳng định chắc chắn rằng, nếu phục chế được trên 20 mẫu đồ thờ theo thời Lý, Trần thì chắc chắn làng gốm sẽ chuyển sang một giai đoạn khác". Ông nói thêm như để chứng minh: "Lúc đầu làm ra, tôi cũng không tin lắm. Sau đó một thời gian, có mấy vị khách Nhật Bản đến tham quan cũng đưa ra nhận xét là "gốm ở đây hơn nơi khác là không phải dùng men. Nay lại có thêm nhiều mẫu giả cổ có hoa văn khác lạ...". Tôi làm được vài mẫu, bước đầu bán được. Nhưng do bỏ nghề một thời gian quá lâu, nên chất lượng chưa bằng được gốm ngày xưa. Nếu chỉnh chu hơn về mặt kỹ thuật, vấn đề đầu ra cho gốm Thổ Hà không phải là chuyện quá khó nữa".
Công việc này đâu riêng gì ông Tuất tiến hành, mà ở làng có cả những bậc kỳ cựu như ông Nguyễn Ðức Ngoạn, Trịnh Ðắc Thông, Nguyễn Ðức Sinh... đến nhà ông Tuất tham gia khôi phục lại nghề gốm. Ông Sinh nói: "Nếu nói làng gốm đã hồi sinh thì hơi sớm. Nhưng tôi có thể khẳng định nếu gốm Thổ Hà có sự cách tân đôi chút về mẫu mã thì trong thời gian không xa, làng gốm sẽ hồi sinh. Thế mạnh của gốm Thổ Hà nung trong bảy ngày, bảy đêm, nên là gốm sành. Và nhiều mẫu cũ có giá trị được cải biên cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Nhiều tay chuyên đi săn đồ giả cổ đã tìm về tận đây xem hàng. Nếu chúng tôi phục chế được chất lượng gốm như trước thì sẽ mở ra một hướng đi mới cho làng... Nghe ông Sinh háo hức nói về nghề, về tương lai của làng với sự tự tin, tôi hy vọng rằng, không bao lâu nữa, đất và lửa nơi này lại quyện lẫn nhau, làm sáng lại vùng đất đã có một thời nổi danh về gốm.
Tuy nhiên để phục sinh thành công làng nghề gốm Thổ Hà, cần có thời gian và sự trợ giúp của các cơ quan, ban ngành huyện, tỉnh để mở lớp đào tạo nghề gốm cho người dân, mời giáo viên mỹ thuật công nghiệp về trợ giúp... Trước mắt, ông Tuất vẫn sưu tầm mẫu mã làm gốm, duy trì lò nung bởi còn lò gốm là sẽ còn cơ hội khôi phục làng nghề.


--------------------------------------------------------------------------------

LỄ HỘI CHÙA LA BẮC GIANG:
Hội chùa La cũng là hội chùa Đức La và chùa Vĩnh Nghiêm ở thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng. Cả 3 cái tên này thì chỉ có Vĩnh Nghiêm là tên chữ của chùa, còn lại 2 tên kia là tên thôn sở tại của chùa. Có điều trong 3 tên đó thì nên dùng Vĩnh Nghiêm để gọi vì chùa này nổi tiếng cả nước với cái tên ấy. Còn dùng để gọi hội thì dùng tên hội chùa La hay hội chùa Đức La cũng vậy bởi La là tên nôm đơn , Đức La là tên Hán Việt.
Hội chùa La tổ chức vào ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm. Ngày này các sư gọi là ngày giỗ tổ nên cũng gọi là hội giỗ tổ chùa La.
Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa cổ nổi tiếng có từ thời Lý, Trần (thế kỷ XII - XIII) thuộc dòng Thiền phái Trúc Lâm. Chùa này nằm ở chỗ hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương. Khu vực này năm xưa còn gọi là khu vực ngã ba Phượng Nhãn. Chùa nhìn ra ngã ba sông và nhìn về phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc. Phía sau chùa là thôn Đức La xa hơn nữa là vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào vùng núi Yên Tử. Bao quanh chùa có một số núi lớn tiêu biểu là núi Cô Tiên. Ra vào chùa có thể đi theo sông Thương, sông Lục Nam và con đường quốc lộ 31 đi Trí Yên (Yên Dũng). Do thuận tiện giao thông như vậy nên khách thập phương đến hội không có trở ngại.
Trong ngày hội (14/2), các tăng ni ở chùa thắp hương tụng kinh, niệm phật ở tam bảo, nhà tổ đệ nhất và nhà tổ đệ nhị. đồng thời cũng thỉnh chuông hoăng dương phật pháp vào lúc sớm, tối trong ngày.
Từ ngày 13 trở đi, khách thập phương từng đoàn từ 5, 10 đến 20, 30 người lũ lượt kéo về chùa. Khách đến chùa trẩy hội hầu hết là các già, các vãi và thanh thiếu niên nam nữ. Hàng quán được mở tạm dọc theo đường từ tam quan vào đến nhà tiền đường. Trong khu vực nội tự, không có hàng quán nhưng đông các đoàn dâng hương hành lễ. Xen lẫn trong đó các đội văn nghệ của làng biểu diễn tích chùa.
Tổ Chúc Lâm ở Chùa Vĩnh Nghiêm là ba vị :
- Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông .
- Thiền Sư Pháp Loa
- Thiền sư Huyền Quang

Về ba vị tổ này, trong một số tấm bia cũ, ở đoạn nói về thời Lý đã ghi : Vua Lý Thái Tổ mở ra chùa chiền . Tăng đồ thịnh hành là thời kỳ đạo phật đại hát đạt. Song không có bia để lại . Chỉ được nghe đại lược như vậy.Ở đời Trần , thì xem trong truyện ký có vua Trần Nhân Tông , cũng là con trưởng vua Thánh Tông lên năm Mậu Dần , đổi niên hiệu là là Thiên Bảo ( 1279- 1284). Ngài là người nhân từ có trí thao lược ,xứng đáng đứng đầu thời nhà Trần , nhưng lúc muộn việc nhàn rỗi , phái mời thiền khách đế giảng giải nghiên cứu tâm tông , tham khảo Tuệ trung thượng sỹ, đi sâu vào thiền cốt . Sau nhường ngôi cho Anh Tông ( theo sử ký : ở ngôi 5 năm , xuất gia 8 năm ).
Năm Kỷ Hợi , Hưng Long thứ 7 (1299) ngài đi đường tắt vào núi Yên Tử , sửa lại Đầu Đà Hạnh , tự hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà tinh xã. Mở khoá giảng về Phật pháp tăng nữ đến học đông đúc. Năm Giáp Thìn , Hưng Long thứ 12 (1304), ngài đi chu du khắp các đạo , tìm người kế thừa đạo pháp. Khi đi qua sông Nam Sách , thấy đứa con ông thần dân nặc danh là Kiên Cương, ngài lấy làm lạ nói: ”Chú bé này có đạo nhân’, bèn ban cho tên Thiện Lai, đưa về am Kỳ Lân, cắt tóc, cho thụ giáo tâm thiên, học kinh hiểu rộng được ban tên hiệu là Pháp Loa. Ngày 11 tháng giêng năm thứ 16 Điều ngự đăng đoàn thuyết pháp ở chùa Bảo Ân chuyện Siêu Loại. Giảng xong bèn đi xuống dắt Pháp Loa lên toà, thay sư vái đáp lễ, xin trao cho y bát, khoác áo rồi Điều Ngực trao cho sư tiếp nối trụ trì chùa Siêu Loại - Sơn môn Yên Tử thành đời thứ 2 của phái Trúc Lâm. Vua Trần Anh Tông nhiều lần gửi tờ điệp cho sư. Sư thường tuý tăng không câu lệ luật thường.
Tháng tư Điều Ngự đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang làm lễ kiết hạ, lệnh cho Pháp Loa trụ trì.
Điều Ngự giảng truyền Đăng Lục, lệnh cho quốc sư (Pháp Loa) giảng Pháp Hoa kinh cho chúng tăng. Hết khoá hạ thì xong. Điều Ngự vào núi Yên Tử đến nằm ở Am Ngoạ Vân - ngày 1-11 bổng dưng ngài hoá. Anh Tông Hoàng đế kính dâg tên hiệu: Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật tổ.
Năm thứ 21, Quý Sửu (1313) Pháp Loa phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm, định chức tăng trong thiên hạ và đặt nơi dựng ở chùa một năm. Sau cứ ba năm một lần làm như vậy, nên tăng ni giáo xuống vài ngàn.
Ngày 13 - 2 năm Canh Ngọ, niên hiệu Khai Hựu thứ 2 (1330) Pháp Loa về viện Quỳnh Lâm, bèn đem những điều mà Điều Ngự đã truyền trước đây là giá trạng và tả tâm kệ truyền cho sư Huyền Quang dạy rằng phải gìn giữ lấy. đến ngày 3-3 Pháp Loa cầm bút viết kệ xong, không bệnh qua đời . Thái thượng Hoàng gia phong hiệu cho sư là Tịnh trí tôn giả, gọi là pháp viên thông .
Theo Huyền Quang tam tổ thực lục : thuỷ tổ Huyền Quang ở hương Vạn Tải, Vũ Ninh , Bắc Giang là Ly Ân Hoà , Làm quan cho triều Lý Thần Tông . Đến tổ đời thứ sáu là Quang Dụ làm chuyển vận. sứ ở triều trần . Quang Dụ sinh được bốn người con trai ; con út là Tuệ Tổ , Tức bố đẻ của ngài . Mẹ ngài mang thai 10 tháng , đẻ ra đã đĩnh dị , đặt tên là Đạo Tái; 9 tuổi đã giỏi văn chương. 21 tuổi đỗ đầu khoa thi đại tỉ, được tiếp Bắc Sư . Văn chương ngôn ngữ hơn hẳn thượng quốc . Khi ấy có theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Phượng Nhỡn thấy quốc sư Pháp Loa hành pháp , lập tức giác ngộ tiền duyên ngài cảm khái nói rằng : “Phú quý vinh hoa rồi cũng hết như lá vàng mùa thu , mây trắng mùa hạ , làm sao mà giữ mãi được ?” Nhân đó , ngài nhiều lần dâng biểu từ chức xuất gia, đến thụ giáo Pháp Loa thiền sư, lấy pháp hiệu Huyền Quang đi tìm danh lam trong nước, chăm pháp hương ở Pháp toà, giảng kinh truyền thụ cho môn đệ. Sau ngài đến Côn Sơn và mất ngày 23 tháng giêng năm Giáp Ngọ. Minh Tôn hoàng đế họ tên thuỵ là: Trúc lân thiền sư đệ tam đại. Đặc biệt phong tư pháp Huyền Quang tôn giả.
Chùa Vĩnh Nghiêm hiện có các toàn chính là: Toà Thiên đường, toà thượng điện nhà tổ đệ nhất gác chuông, nhà tổ đệ nhị và một số công trìn khác. Chùa có quy mô lớn. Trong ngày hội, mội người đều được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của công trình kiến trúc này và thắp hương niệm phập ở các toà và tưởng niệm 3 vị sư tổ của thiền phái Trúc Lâm ở toà tổ đệ nhất.
Trong toà tổ đệ nhất hiện nay có một tượng hậu đặt ở phía ngoài, 2 gian bên. Ba tổ Trúc Lâm đặt ở hậu cung thẳng trục gian giữa vào sân bên trong. Mỗi người đến hội, tuy chỉ một nén hương ở chốn này mà kỳ thực như đã tưởng nhớ tới các vị thiền sư có công khai sáng thiền đạo nơi đây.


--------------------------------------------------------------------------------

LỄ HỘI ĐÌNH HẢ BẮC GIANG:
Hội đình Hả mở ra ở đình làng Hả, xã Tân Trung, huyện Tân Yên vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch, trùng với ngày hội ở Phồn Xương - Yên Thế.
Làng Hả là một làng trung du, có cảnh quan đồi núi, địa hình hẹp. Cư dân chủ yếu làm nông nghiệp, lâm nghiệp là chính. Trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng tấn công đánh chiếm Bắc Ninh, Bắc Giang. Ngày 16 tháng 3 năm 1884 chúng tiến đánh Tỉnh đạo (Yên Thế) rồi tiếp tục tấn công lên Thái Nguyên. Trên đường đi, chúng bị nghĩa binh Yên Thế do Đề Nắm chỉ huy chặn đánh ở Đức Lân và thất bại nặng nề. Sau trận đánh này, nghĩa binh Yên Thế rút về đình Hả tế cờ khởi nghĩa, mở đầu cho phong trào khởi nghĩa Yên Thế.
Trong cuộc tế cờ, Lương Văn Nắm, cũng gọi là Đề Nắm được tôn làm thủ lĩnh lãnh đạo phong trào. Năm 1892 Đề Nắm mất, Đề Thám lên thay, tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp tới năm 1913. Như vậy cuộc khởi nghĩa kéo dài tới ngót ba mươi năm. Tên tuổi Đề Nắm, Đề Thám còn được truyền tụng trong nhân dân Yên Thế mãi tới ngày nay. Để kỷ niệm về phong trào khởi nghĩa Yên Thế lễ hội Yên Thế được các cấp chính quyền cho mở tại Phồn Xương - đại bản doanh của Đề Thám năm xưa vào ngày 16/3 hàng năm.
Ngày nay, ở đình Hả cũng tổ chức dâng hương tưởng niệm và có các trò vui. Từ đó đến nay ngày 16/3 đã có ấn tượng sâu sắc trong tâm trí mọi người. Cũng vì ý nghĩa lịch sử này nên ở đình làng Hả, nhân dân đã cho tạc một pho tượng Lương Văn Nắm (tượng trưng) để thờ cúng ở thánh cung cùng thành hoàng làng Cao Sơn - Quý Minh.
Ngày 16 tháng ba ở đình Hả là lễ mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Trong hội này, các cấp, các ngành và nhân dân địa phương đều đến dự từ sớm ở sân đình để làm lễ dâng hương tưởng niệm vị thủ lĩnh đầu tiên của phong trào khởi nghĩa Yên Thế.
Lễ tưởng niệm trong lễ hội tổ chức theo nghi thức mới. Cùng với việc thắp hương tưởng niệm, thành hoàng làng, nhân dân cũng thắp hương tưởng niệm Lương Văn Nắm ở thánh cung. Sau đó tổ chức lễ khai hội ở trước sân đình. Trong khu vực đình, chùa Hả, bà con dân xã Tân Trung vẫn tiếp tục duy trì các trò vui của hội.
Hội 16/3 ở đình Hả cũng là một bộ phận tạo nên lễ hội Yên Thế. Có năm, ở khu vực đình Hả, huyện Tân Yên cho mời đội kỳ lân sư tử của xã Phúc Hoà trống dong cờ mở tới múa thờ ở đình. Lại cho tập trung cả trăm con ngựa với các trai trẻ Tân Yên đóng làm nghĩa binh cụ Đề đến đình từ sớm 16/3 dự lễ khai mạc. Trong lễ khai mạc này, không khí thật hào hùng, hoành tráng, bài diễn văn ngắn gọn mà thôi thúc lòng người như tinh thần khởi nghĩa Yên Thế bất diệt. Tế xong, xe ngựa sẵn sàng chở đội kỳ lân tung cờ, đánh trống vừa ngồi trên xe ngựa vừa chạy, vừa múa. Cả trăm con ngựa được lệnh nối nhau tiến vào trung tâm lễ hội Phồn Xương. Từ đình Hả đến Phồn Xương, đường làng ven đồi, ven những luỹ tre. Các trai Cầu Vồng mặc quần áo nâu, đầu và bụng chít khăn đỏ, người cầm cung, cầm giáo, cầm kiếm, người cầm súng, cầm cờ thúc ngựa tiến bước. Vó câu nhịp nhàng, trống giục thùm thùm, bụi hồng mờ mịt. Khí thế ngày hội tưng bừng. Dân háo hức, rầm rập chạy theo, kẻ trước người sau, không khí tưng bừng phấn khởi; náo nhiệt.


--------------------------------------------------------------------------------

LỄ HỘI DĨNH KẾ BẮC GIANG:
Dĩnh Kế là một xã lớn nằm ở phía Đông Bắc thành phố Bắc Giang gồm 12 thôn làng. Nơi đây có chợ Kế - một trong những trung tâm thương mại lớn của một vùng bao gồm thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang và huyện Yên Dũng. Nói đến Dĩnh Kế là nói tới đặc sản bánh đa nổi tiếng với hương vị đặc biệt hấp dẫn của nó. Ở Dĩnh Kế còn có nghề trồng hoa và cây cảnh, một nghề bình dị mà cao sang đã góp phần làm đẹp cho đời và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của người dân từ thành thị đến thôn quê.
Vào những dịp lễ hội, có đến Dĩnh Kế chúng ta mới thấy hết được những sáng tạo tuyệt vời của người dân lao động vùng này. Đặc biệt với cụm di tích lịch sử văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng: đền Dĩnh Kế, chùa Đống Nghiêm. Lễ hội ở đây ngày càng đông hơn, vui hơn với nhiều nội dung độc đáo mà hấp dẫn:

" Đồn rằng hội Kế tháng Ba
Không đi xem hội cũng già mất thân "
Từ trung tâm thành phố Bắc Giang, ngược đường quốc lộ 31 khoảng 3 km, chúng ta tới thăm đền Dĩnh Kế ( còn gọi là Nghè Cả ). Nghè nằm ở trái đường, sát với chợ Kế. Đây là một công trình kiến trúc cổ theo kiểu thức dân tộc với kỹ thuật chạm khắc đẹp và tinh xảo, tài nghệ. Đền thờ Cao Sơn, Quý Minh đại vương - hai vị tướng của Hùng Vương phò vua giúp nước. Đền cũng là nơi đặt bia Phượng Nhỡn, Bảo Lộc, trong đó có trạng nguyên Giáp Hải ( còn gọi là trạng Kế ) - một danh nhân lịch sử, một tác giả nổi tiếng được sử sách ghi chép và nhân dân truyền tụng.
- Giáp Hải đỗ Trạng nguyên khoa thi Mậu Tuất ( 1538 ) triều Mạc Đại Chính năm thứ 9.
- Giáp Phong ( con trai Giáp Hải ) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa thi Mậu Thìn ( 1568 ) năm Mạc Thuần Phúc năm thứ nhất.
- Nguyễn Duy Năng đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa thi Giáp Tuất ( 1574 ) năm Mạc Sùng Khang năm thứ bảy.
Hàng năm cứ đến ngày Đinh của tháng trong Xuân ( tháng 2 ) và ngày Đinh của tháng trong Thu ( tháng 8 ), những người trong hội văn, sĩ hội cùng toàn dân đêm lễ vật tạ lễ tại văn chỉ biểu hiện lòng tôn kính ngưỡng vọng các bậc hiền tài khoa bảng của quê hương.
Cạnh đền Dĩnh Kế là chùa Đống Nghiêm ( còn gọi là chùa Kế ). Đây là một công trình kiến trúc cổ - một trung tâm thờ Phật của nhân dân trong xã. Chùa còn giữ được nhiều pho tượng đẹp, nhiều cổ vật và những tài liệu quý có giá trị lịch sử, văn hoá. Chùa có tên " Nguyên cổ tích danh lam Đống Nghiêm Tư " dựng năm Cảnh Hưng thứ 2 ( 1759 ). Ngày mùng 4 Tết là hội chùa Dĩnh Kế, đó là sinh hoạt Phật giáo lớn của tăng ni, phật tử, các tín đồ cùng khách địa phương.
Hàng năm vào dịp rằm tháng Ba âm lịch, ngày Đại kỳ phước, đền Dĩnh Kế là nơi trung tâm diễn ra lễ hội của nhân dân các thôn trong xã. Người ta tổ chức rước long ngai, bài vị của Đức thánh Cả về Nghè Cả; tổ chức hành lễ biểu hiện lòng sùng bái của muôn dân trăm họ đối với Đức Thánh, sau đó tổ chức trò vui, biểu diễn văn nghệ. Đặc biệt ở hội Kế còn tổ chức trò chơi cờ người và kéo chữ. Trai gái trong làng được chọn vào làm quân cờ hoặc kéo chữ phải tập trước hàng tháng. Ba ngày trước khi hội mở, họ tập trung nhau lại để tổng duyệt. Người kéo chữ trước đây mặc quần áo đẹp, đầu đội khăn xếp, nón chóp dứa, đi giầy chín long, thắt lưng nhiễu điều, vác cờ ngũ sắc đi theo hiệu trống của ông tổng cờ cho đến khi thành chữ: " Thiên hạ thái bình - Trình quan đại hội ".
Trước đây, vào dịp 20 tháng Bảy, ở Dĩnh Kế còn diễn ra lễ “thượng điền " của nhân dân toàn xã. Vào ngày này, các giáp mang lễ vật về tế ở đình làng, xã thể hiện lòng sùng bái trời đất, thánh thần đã phù giúp cho mùa màng tốt tươi, dân an vật thịnh.
Không chỉ thờ Phật, ngưỡng vọng các bậc hiền tài khoa bảng, người Dĩnh Kế còn thờ bà " Chúa chợ " - bà Nguyễn Thị Chuyên đã có công mở mang chợ Kế thành trung tâm buôn bán sầm uất vào các dịp tuần rằm hàng tháng.


--------------------------------------------------------------------------------

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC CHÙA KIM TRÀNG BẮC GIANG:
Theo đường 34 đi Nhã Nam, đến cầu Kim Tràng, nhìn hướng tay phải, ta thấy một vùng cây xanh tươi, thấp thoáng mái ngói chập chùng cao thấp bên một hồ sen lớn.
Đó chính là chốn chùa tổ Kim Tràng nhưng phải đi tiếp một đoạn nữa, đến cây số 10 đó là chợ Kim Tràng, rẽ vào đường liên xã Việt Lập một đoạn, bạn sẽ thấy vườn tháp chùa Kim Tràng nhấp nhô: cái nhỏ, cái to, cái cao, cái thấp, tất cả có gần 10 tháp cổ 3 tầng nằm kề một sân vận động lớn, bằng phẳng. Chùa nay thuộc xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; xưa thuộc xã Kim Tràng, tổng Tuy Lộc Sơn, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Theo các tài liệu văn bản học thì ngôi chùa này được khởi dựng vào thời Lê Cảnh Hưng tam niên (1742) đời vua Lê Hiển Tông.
Tương truyền, thời ấy có một vị sư tăng thuộc thiền phái Trúc Lâm tu ở chùa Đức La, một hôm đi qua đây, thấy trẻ chăn trâu dựng cây, đắp đất làm chùa, lại hái hoa quả đem hương đến dâng lễ Phật rất vui vẻ. Ông bèn dừng lại xem ngắm địa thế, thấy rất hài lòng. Bèn vào 2 làng giáo hóa nhân dân hưng công dựng chùa. Thôn Đông làm trước, Kim Tràng làm sau, khi xây dựng xong, sư tổ về trụ trì ở đây, ông ra công xây dựng tòa ngang, dãy dọc, suốt cả mấy chục năm ròng. Cho nên chùa có kiến trúc nội công, ngoại quốc với quy mô lớn. Theo đúng dáng của chùa tổ Đức La (Yên Dũng). Vì vậy, thời ấy dân gian có câu ca rằng:
"Thứ nhất là chùa Đức La
Thứ nhì Quảng Phúc, thứ ba chùa Tràng"

Chùa Đức La (Yên Dũng) thuộc thiền phái Trúc Lâm tam tổ có quy mô lớn, kế đến là chùa Quảng Phúc thuộc xã Đa Mai, thành phố Bắc Giang nhưng ngôi chùa này đã bị phá trong kháng chiến chống Pháp và chùa Kim Tràng trở thành chốn tổ từ 250 năm trước có quy mô lớn nhất ở vùng Yên Thế cũ. Cho đến nay, chùa Kim Tràng vẫn là ngôi chùa lớn nhất ở vùng Tân Yên - Yên Thế.
Tới năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), nhân dân ở đây lại hưng công đúc quả chuông lớn, thập phương, thiện nam, tín nữ công đức tiền của khá nhiều, tên tuổi, quê quán hiện còn khắc vào chuông. Tới năm 1939, đại trùng tu lại chùa, đã bỏ mất đao tàu, xây bít đầu hồi. Nhưng nhìn chung, cho tới ngày nay quy mô chùa vẫn còn khá lớn.
Qua bậc tam cấp, ta bước vào tiền đường cao rộng, thoáng đãng với kết cấu thượng con chồng - hạ kẻ tràng, thượng chỉ hạ ngũ, có tứ hàng chân vững chãi, với 3 chữ Hán "Linh Ứng tự". Nối với tiền đường là tòa tam bảo, Phật điện lung linh đèn nến dài hơn 10m, rộng gần 7m, 4 gian cao rộng, khung cột kết cấu toàn bộ con chồng, đấu kẻ suốt từ trên xuống dưới, với tứ hàng chân, mỗi hàng 5 chiếc sừng sững, uy nghi, suốt với 4 hàng chân cột tiền đường qua cửa vòm cuốn rộng, giúp cho phật điện tiền đường khoáng đạt mà dung dị vô cùng, đủ chỗ cho mấy trăm người cùng hành lễ dâng hương một lúc. Chủ ý của người xây dựng công trình, ngoài giá trị sử dụng ra, muốn thể hiện sự bao dung, nhân từ, rất rộng mở, gần gũi mà cũng thật thiêng liêng của cửa Phật với thập phương sinh chúng.
Bước qua cửa nách tòa tam bảo, ta gặp ngay hai dãy hành lang, mỗi dãy 6 gian, dài 15 mét, rộng 4 mét, cao cũng như vậy; khung gỗ kết cấu con chồng đấu kê, nối suốt từ hồi tiền đường đến giáp tường nhà tổ. Đằng sau hậu cung phật điện là một sân hậu chùa, lát toàn gạch chỉ, sạch sẽ phóng khoáng, có hai cột đồng trụ cực đẹp, 3 mặt cân đối, trên đắp đèn lồng, đỡ một quả dây đắp nổi 4 con phượng xòe đuôi tung cánh, đầu ngoảnh 4 phương.
Qua sân sau chùa, ta bước vào nhà tổ 5 gian rộng rãi với ngũ hàng chân. Kết cấu khung cột, tiền kẻ hậu bảy, thượng tứ trụ ngũ, thượng con chồng, hạ kẻ tràng và trên tất cả các con chồng hoành đều trang trí bằng cách chạm lộng khác nhau và ở các ván gió trên xà thượng, cốn và trụ kẻ… đều chạm lộng những hoạt cảnh sinh động. Trải qua sự bào mòn khắc nghiệt của thời gian, của thiên tai địch họa nhà tổ vẫn còn bảo lưu khá nguyên vẹn kiến trúc của thời khởi dựng chùa.
Qua cổng hậu chùa là công trình phụ, nhà khách của chùa, đầu nhà khách là khu vườn tháp, nơi an táng xá lỵ của các vị sư tổ chùa này đời đời yên nghỉ. Với một bên là sân vận động rộng lớn, còn một bên là hồ nước mênh mang, khu chùa nổi bật lên giữa một không gian cao rộng, thoáng đãng, với vườn chùa cây cối xum xuê, thấp thoáng mái chùa ẩn hiện, cao thấp chập chồng, tạo nên vẻ đẹp hài hòa tuyệt vời giữa cảnh quan môi trường và di tích, thật xứng đáng là chùa tổ vùng này. Và vì là chùa tổ, tồn tại mấy trăm năm nên hầu hết tượng Phật ở chùa đều tạc bằng gỗ mít, cổ kính, sơn son thếp bạc, phủ hoàn kim toàn bộ, đẹp lộng lẫy.
Cách bài trí tượng ở chùa Kim Tràng gần giống như ở Phật điện chùa tổ Đức La (Yên Dũng) thuộc thiền phái Trúc Lâm. Nghĩa là: Tại tòa tiền đường là hai pho tượng hộ pháp đứng khá lớn, các vị La Hán này đã trang phục quân sự ngạch võ quan; cạnh đó là Đức Thánh Hiền và pho Đức Ông cũng sơn son thếp vàng, ngồi trên ngai tôn quý; bước sang tòa tam bảo, ta sẽ gặp cả một "thế giới" chư Phật đông đảo quần tụ trên Phật điện.
Tất cả tượng 7 vị sư tổ ở hậu đường đều là tượng chân dung không pho nào giống nhau mà giống người đời nhiều hơn quy lệ nhà Phật. Đó cũng là nét đặc sắc về những pho tượng sư tổ mà ta chỉ có thể gặp ở đây.
Đấy là chưa kể đến ban Mẫu ở gian bên cạnh, tượng Mẫu sơn nhỏ hơn, ngồi ở tư thế thoải mái, chân duỗi, chân co, tay phải đặt lên đầu gối, tay trái giơ lên như đang nói, cổ cao 3 ngấn, mặt đẹp, phúc hậu. Đầu đội mũ phượng, sơn thiếp vàng, cũng bằng gỗ, tuyệt đẹp, có giá trị nghệ thuật cao.
Như vậy, chùa Kim Tràng là ngôi chùa tổ lớn thứ 3 ở vùng Bắc Giang (sau chùa Đức La - Yên Dũng) và chùa Quảng Phúc (Bắc Giang) đã bị phá. Và là chùa tổ lớn thứ nhất ở vùng Yên Thế - Tân Yên. Những giá trị nhiều mặt của ngôi chùa chẳng những là nguồn tài liệu quý giúp cho việc nghiên cứu kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo, thiền phái Trúc Lâm tam tổ thời Trần và ảnh hưởng của nó đối với các chùa tổ xứ Bắc vốn nổi tiếng nhiều chùa này "Cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài" là vậy.
Chùa Kim Tràng có giá trị kiến trúc, điêu khắc nghệ thuật nổi trội hơn ở cả vùng này, với bố cục gọn gàng, chặt chẽ, quy mô lớn, hài hòa với cảnh quan ngoại thất, nội dung tư tưởng của kiến trúc thể hiện rõ nét, tuyến tượng ở chùa rất đẹp, thực sự là một kho tư liệu quý về việc kết hợp chặt chẽ các chất liệu gỗ, gạch, đá trong một tổng thể kiến trúc mang đậm tính dân tộc độc đáo. Sự hài hòa giữa nội và ngoại thất, giữa kiến trúc và điêu khắc kiến trúc, giữa tuyến tượng trên phật điện và tượng ở nhà tổ… thực sự là nguồn tài liệu quý giúp cho việc nghiên cứu lịch sử phát triển Phật giáo ở Bắc Giang và thiền phái Trúc Lâm - vai trò và ảnh hưởng của nó trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.


--------------------------------------------------------------------------------

SÔNG CẦU BẮC GIANG:
Sông Cầu, cái tên nghe êm ái, nhẹ nhàng như bao tên sông trên đất nước Việt Nam.
Sông Cầu, vừa ra khỏi nơi phát nguyên vùng rừng núi Bắc Cạn đã gặp ngay một địa danh rất yên bình: Thái Nguyên - thủ đô của kháng chiến, an toàn khu Việt Bắc, nơi đây, bạt ngàn là rừng: "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sống, làm việc dưới những tán lá rừng, hang động của chiến khu Cao - Bắc - Lạng, Hà - Tuyên - Thái với động thái: "Sáng ra bờ suối, tối vào hang…", chắc hẳn bước chân của Người đã nhiều lần vượt qua những con suối đầu nguồn, tiền thân chi lưu của dòng sông Cầu.
Xa xưa hơn nữa, những người lính thú đi bảo vệ biên cương phía bắc dưới các triều đại phong kiến (dân tộc ta trong trường kỳ thế kỷ, thường xuyên phải đương đầu với quân giặc phương bắc), sau khi từ biệt, đôi khi là vĩnh biệt, những người yêu, người vợ khóc sướt mướt, nước mắt hóa thành con sông Thương nước chảy đôi dòng, họ kiên quyết: "ra đi, đầu không ngoảnh lại", tất nhiên họ đã nhiều lần uống nước sông Cầu nơi biên ải trong hoàn cảnh: "Miệng ăn măng trúc măng mai, những tre cùng nứa lấy ai bạn cùng".
Nước sông Cầu trong xanh, màu xanh đậm đà, khoáng đạt của lá cây vùng rừng nhiệt đới thừa thãi ánh nắng mặt trời. Đi thuyền trên sông Cầu, vào những buổi trưa tròn bóng nắng, tinh mắt, có thể nhìn thấy cả sỏi đá, rong rêu dưới đáy sông. Nước sông Cầu vùng trung lưu, hạ lưu chảy êm đềm, những ngọn cỏ ven bờ nương theo dòng nước. Có lẽ, vì vậy, một người không định làm thơ, đã có một câu thơ rất hay: "Sông Cầu nước chảy lơ thơ" - một câu thơ thần với hai chữ "lơ thơ".
Nhìn dòng nước sông Cầu, tôi lại nhớ đến dòng sông Đa-nuýp chảy qua thành phố Viên, thủ đô nước Áo, nổi tiếng với bản nhạc: "Đa-nuýp xanh" mà những người yêu âm nhạc thường rạo rực, say đắm khi những nốt nhạc êm ái theo điệu Van-xơ của bản nhạc này nổi lên. Dòng nước ở đây cũng xanh trong, nhưng là màu xanh lơ của mây trời xứ lạnh. Những ngày nắng, dân thành phố Viên thường ra đây tắm sông, tắm nắng, họ nằm vô tư, ngổn ngang, mắt nhìn vô định để thư giãn, tĩnh tâm, trẻ em nô đùa, đuổi bắt nhau, chạy tung tăng, đôi khi có những nhóm nhỏ quây quần bên nhau, biểu diễn ca nhạc theo kiểu gia đình, bè bạn.
Sông Đa-nuýp đi qua nhiều thành phố, nhiều nước châu Âu, ở đâu nó cũng vừa làm đẹp thêm phong cảnh những vùng nó qua, vừa làm giàu cho cư dân hai bên bờ sông.
Vậy, còn sông Cầu của chúng ta ra sao? Sông Cầu đẹp và nên thơ không kém sông Đa-nuýp, chỉ có điều chúng ta chưa biết "make up", chưa biết làm đẹp cho nó và cũng chưa biết đầu tư để kiếm tiền, chưa biết khai thác hết vẻ đẹp của thiên nhiên để phục vụ cho con người.
Trên dòng sông Cầu ngày xưa đã diễn ra những trận thủy chiến ác liệt giữa quân nhà Trần và giặc Nguyên. Trần Quốc Toản, vị tướng trẻ với lá cờ thêu sáu chữ: "Phá cường địch, báo hoàng ân", đầy nhiệt huyết với đất nước, sục sôi chí căm thù giặc, đã hy sinh lẫm liệt trong một trận giao chiến không cân sức trên sông Cầu. Và tôi rất xấu hổ thú nhận rằng, tôi không biết nơi ấy ở đâu. Những thầy giáo sử học suốt từ cấp một đến cấp ba và cả bố mẹ tôi, đều không nói với tôi điều ấy. Thật là đáng buồn!
Xuôi dần về phía hạ lưu sông Cầu, ta thấy xuất hiện nhiều địa danh xứng đáng để khách du lịch dừng chân. Làng Vân nấu rượu nổi tiếng mấy trăm năm nay với Vân Hương Mỹ Tửu có mặt ở nhiều nước châu Á, châu Âu sánh ngang rượu Vôt-ca ở đất nước xứ sở của tuyết trắng, bạch dương. Làng Thổ Hà với nghề gốm lâu đời, chum sành, tiểu, vại… màu đỏ sẫm, vàng au đi khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, vào đến Thanh Hóa, Nghệ An, "Làng Tiến Sĩ" là loại làng có vài chục người đỗ bằng tiến sĩ, làm quan to trong triều đình dưới các triều đại phong kiến, có gia đình đại hồng phúc, cha và con, anh và em cùng làm quan dưới một triều vua. Làng Đại Lâm nổi tiếng về chống càn, trong kháng chiến chống Pháp, phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ. Có lần, hai chiếc máy bay "bà già", loại máy bay cánh quạt, dùng để thị sát chiến trường, đã bị bắn rơi trên cánh đồng gần thị xã Bắc Ninh sau khi đi thám thính, thu thập tình hình trở về.
Nếu tổ chức du lịch trên sông Cầu, điểm cuối cùng du khách dừng chân, đó là đền Vạn Kiếp, nơi thờ Đức Thánh Trần, một con người đầy quyền lực, thừa tài đức để làm vua, nhưng không màng ngôi báu, bỏ thù riêng, tận trung với vua, "ngày quên ăn, đêm quên ngủ" vì vận mệnh dân tộc. Từ đền Vạn Kiếp tọa lạc trên đồi cao nhìn xuống Lục Đầu Giang ta mới thấy tầm vĩ đại của vị danh tướng đời Trần văn võ song toàn, khi Người chọn nơi đây làm quyết chiến điểm, bằng một trận thủy chiến lẫy lừng đã chấm dứt vĩnh viễn những mưu toan xâm lược của nhà Nguyên.
Một tour du lịch được nghe thơ của Lý Thường Kiệt, thăm đài tưởng niệm Trần Quốc Toản, thăm các làng nghề truyền thống, làng kháng chiến, đền Kiếp Bạc, tôi thiển nghĩ, sẽ vô cùng hấp dẫn. Đồng thời, du khách sẽ càng thư thái khi được ngắm cảnh đồng quê trù phú ở vùng hạ lưu sông Cầu đậm đà hình ảnh, sắc màu của vùng dân ca quan họ.
Tour du lịch kết thúc ở đền Vạn Kiếp, bên dưới đền là Lục Đầu Giang, đó cũng là điểm cuối cùng của dòng sông Cầu. Từ đây, sông Cầu hòa nhập cùng với sáu con sông khác đổ về biển cả. Lục Đầu Giang, nơi tụ hội của sáu con sông, là một hiện tượng tự nhiên độc đáo, nếu không nói là duy nhất, của thiên nhiên, dường như chỉ có ở Việt Nam. Với tour du lịch này, du khách Việt Nam còn được tắm vào dòng sông lịch sử, đầy tự hào về những người con anh hùng, kiệt xuất của dân tộc.


--------------------------------------------------------------------------------

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU BẮC GIANG:
Biểu hiện cụ thể của tổng kết kinh nghiệm trồng cây lúa nước “ nhất thì, nhì thục” là trước cả kỹ thuật và cây giống chính là yếu tố thời tiết. Mà hiện tượng trực quan là Mây — Mưa — Sấm — Chớp được xem là các vị Thần — bà đỡ của nghề nông, mà người ta thường gọi là các Bà trong tín ngưỡng về mẫu. Rồi khi Phật giáo du nhập vào ta, trong phương thức tồn tại, nó cộng sinh ngay với tín ngưỡng bản địa, thì các bà Mây — Mưa — Sấm — Chớp được xem là con Phật đầy phép huyền nhiệm với tên Hán Việt là Pháp Vân — Pháp Vũ — Pháp Lôi — Pháp Diện mà mọi người gọi chung là Tứ Pháp. Với huyền thoại và nguồn gốc Tứ Pháp người mẹ Việt Nam — Man Nương trở thành Phật Mẫu và ngày hội các chùa này được ấn định theo ngày Phật Đản (quan niệm trước đây là ngày mồng Tám tháng Tư). Cũng từ tín ngưỡng mẫu này, thần điện Phật giáo vốn gốc An Độ toàn nam thì sang ta Đức Phật lại mang dáng nữ, và Quan Thế Am Bồ Tát được chỉ định là Bà rõ ràng. Tín ngưỡng thờ Mẫu này, mãi những thế kỷ gần đây, khi Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, cũng khai thác để nhân vật Maria có thể hoá thân vào thu hút tín đồ. Ngày nay, hầu hết các chùa đều có điện Mẫu. Nơi thờ riêng Mẫu sau truyền thuyết hoá với nhân vật Liễu Hạnh, trở thành Phủ Giầy vào dịp xuân được mọi người trẩy hội hư cuộc hành hương về Thánh Địa với tâm thức “ tháng ba giỗ mẹ”. Trên cơ sở tín ngưỡng Mẫu ấy, dân tộc ta đã có những anh hùng cứu nước đích thực đầu tiên là Hai Bà Trưng, Bà Triệu với rất nhiều nữ tướng tài ba. Các Bà Mẹ Dân Tộc đã sinh ra những đứa con là anh hùng huyền thoại và anh hùng lịch sử, mà cả khi sinh và lúc dưỡng cứ lấp lánh hào quang. Từ nguồn mạch ấy, dân tộc ta tin vào triết lý “ Phúc đức tại Mẫu” và mọi người đều xác định “ Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, để rồi từ đó phải sống sao cho xứng với người Mẹ trong nhà và mở rộng với bà Mẹ Tổ Quốc.


--------------------------------------------------------------------------------

VƯỜN THÁP BỒ ĐÀ BẮC GIANG
Đường liên xã ngoằn ngoèo. Lên đò qua sông Cầu, đặt chân đến Thổ Hà, qua làng Vân thơm nồng mùi rượu, du khách đi tiếp độ dăm cây số nữa thì đến chân núi Bổ Đà, đối diện có Phượng Sơn chầu về. Dưới chân núi ấy cây cối hoang sơ và trầm mặc; lấp ló trong những rêu mốc và dây leo là mái chùa Tứ Ân cổ kính (còn gọi chùa Bổ Đà). Con đường vào chùa được lát bằng đá muối, bao bọc xung quanh chùa là hệ thống hào thoát nước và hệ thống trình tường (tường đất) cao độ hai mét, xanh rì những rêu phong trầm tích. Cùng với chùa Vĩnh Nghiêm (tức chùa La) nơi đây từng là một trong hai chốn tổ lớn nhất của đất Kinh Bắc xưa.
Chùa hình thành từ quãng cuối nhà Lê. Các trụ trì truyền đăng tục diệm đến nay đã được mấy mươi đời. Vườn tháp bên chùa, trên cổng có bức hoành phi: tổ chi lâm (rừng tổ). Ai mới bước vào cũng bị choáng ngợp bởi cảnh đẹp vườn tháp. Gần 100 ngôi tháp lớn nhỏ nằm uy nghiêm trầm mặc từ cổng vườn chạy cao dần lên đến tận núi. Những mảng tường lở xói, trơ ra gạch vữa hằn dấu thời gian. Những thân dương xỉ và cây gai dại tranh thủ mọc bám lên tận đỉnh tháp. Những tháp ấy chính là mộ táng của những vị trụ trì xưa, sau khi các ngài đã đi vào cõi tịch diệt miên viễn vĩnh hằng.
Một lần về với Bổ Đà là một lần về với chốn tổ. Đến thăm chùa, dĩ nhiên không thể nào không qua vãn cảnh vườn tháp, nhặt từng hạt châu sa đỏ thắm, ngắm từng mảng rêu non dưới chân. Lúc ấy, con người tự dưng sẽ muốn ngả lưng xuống thảm cỏ để mãi ngắm nhìn tầng tầng lớp lớp các đỉnh tháp đang cùng nhau vươn lên nền trời xanh thẳm và để cảm nhận được rõ hơn vẻ đẹp của quá khứ đang vọng về trên mảnh đất này.


--------------------------------------------------------------------------------

DI TÍCH THÀNH XƯƠNG GIANG BẮC GIANG:
Thành nằm ở xã Thọ Xương cách thị xã Bắc Giang 4 km, bên cạnh quốc lộ 1A đi Lạng Sơn. Thành này do nhà Minh xây dựng vào thế kỷ 15 để trấn giữ nơi cửa ngõ đường rút quân phía Bắc. Nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi do tướng Trần Nguyên Hãn chỉ huy sau gần một năm vây hãm, đánh chiếm thành Xương Giang trước khi viện binh của quân Minh qua ngã biên giới Lạng Sơn kéo xuống nước ta. Chính tại đây diễn trận đánh lịch sử thắng 10 vạn quân Minh. Hệ thống thành cổ Xương Giang hiện nay vẫn còn dài 600 m, có 4 cổng chính, diện tích khoảng 27 ha.



--------------------------------------------------------------------------------

TRƯƠNG VĂN THÁM BẮC GIANG:
Anh Hùng kháng Pháp, tức Hoàng Hoa Thám. Thuở trẻ còn có tên là Trương Văn Nghĩa, con Trương Văn Thân và Lương Thị Minh, quê Dị Chiến, Tiên Lữ, Hưng Yên (nay thuộc Hải Hưng).
Ong lập chiến khu ở vùng yên thế thuộc Bắc Giang (nay là Hà Bắc) nghiễm nhiên là vị Đền lĩnh kiệt hiệt trong phong trào Cần Vương, nên tục gọi là Đề Thám với hỗn danh Hùm xám Yên Thế.
Từ năm 1886, ông trở thành lãnh tụ nghĩa quân Yên Thế với chiến khu và địa bàn hoạt động quanh vùng Bắc Giang – Thái Nguyên – Hưng Hóa, khiến giặc Pháp kinh hoàng. Giặc pháp phối hợp với tổng đốc tay sai Lê Hoan một mặt đàn áp một mặt chiêu hàng, nhưng chúng vẫn không dẹp được ông. Đến năm 1894, chúng chịu điều đình và cắt nhượng cho ông 6 tổng gồm 22 làng ở Phồn Xương để ông lập đồn điền , lập khu tự trị đưa đến giải trừ quân bị.
Nhưng thật sự ông chỉ trá hàng chứ không buông vũ khí. Năm 1905, sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phạm Văn Ngôn (Tú Nghệ) ông lại vùng lên kháng chiến chống Pháp quyết liệt hơn trước, địa bàn hoại động cũng mở rộng hơn so với tổ chức “Đãng Nghĩa Hưng” và “ Trung Chân Ưng Nghĩa Đạo” do ông làm lãnh tụ, từ đấy suốt 8 năm ông tiếp tục chiến đấu, gây tổn thất nặng cho quân Pháp và toán quân tay sai do Lê Hoan cầm đầu.
Cuối cùng, đêm 18/3/1915, ông bị thuộc hạ là Lương Tam Kì phản bội ám sát ông tại một nơi cách chợ Gồ 2 cây số, hưởng dương 55 tuổi.
Phan Bội Châu có thơ biếu ông :

"Dị chủng sài lang màn địa tinh,
Độc tương chích thủ dữ cừu tranh
Trấp niên thương kiếm sơn hà khí
Bách chiến phong vân phụ tử binh
Quốc thế dĩ trảm quân thượng phấn
Tướng đầu vị đoạn tặc do kinh
Anh hùng bản sắc chung năng kiện
Vạn lý thời văn hổ khiếu thanh
Bản dịch:
Sài lang chết đất giống hôi tanh
Cùng địch ra tay quyết đấu tranh
Non nước bao năm ngời bảo kiếm
Cha con trăm trận nổi hùng binh
Nước nhà dù đắm thân còn dấn
Đầu tướng chưa lìa giặc vẫn kinh
Cuộc chót anh hùng cùng to nét
Vẳng nghe hổ thét dội muôn trình "

THUÊ XE DU LỊCH
THUÊ XE 4 CHỖ
THUÊ XE 7 CHỖ
THUÊ XE 15 CHỖ
THUÊ XE 16 CHỖ
THUÊ XE 24 CHỖ
THUÊ XE 25 CHỖ
THUÊ XE 29 CHỖ
THUÊ XE 30 CHỖ
THUÊ XE 35 CHỖ
THUÊ XE 45 CHỖ
THUÊ XE 50 CHỖ

LỊCH KHỞI HÀNH TOUR TRONG NƯỚC - NỘI ĐỊA
BẢNG GIÁ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH TRONG NƯỚC - DU LỊCH NỘI ĐỊA

Tin liên quan:
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ khách hàng
 
 Tel: 3995 1033 - 3995 1021
 Hotline: 0919.221.009
 Fax: (84-8) 3995 1024
 Emal: huutoan@saigontoserco.com
 ADD: 86/6 Thích Quảng Đức,P5,Q.PN
 
thue xe du lich 4 cho
thue xe du lich 7 cho
thue xe du lich 16 cho
thue xe du lich 25 cho
thue xe du lich 30 cho
thue xe du lich 45 cho
Địa chỉ: 86/6 Thích Quảng Đức, P.5, Q.Phú Nhuận, Tp.HCM.
Tel: (84.8)3995 1033 - 3995 1021 - Fax: (84.8)3995 1024
Hotline: 0919.221.009
Emal: info@saigontoserco.com
Copyright © SaigonToserco.com. All rights reserved.