Tour du lịch | Event | Vé máy bay | Tàu hỏa | Xe du lịch | Khách sạn | Hướng dẫn viên | Visa | Liên hệ  
 
Trang chủ
Tin tức
Danh bạ nhà hàng
Địa danh
54 Dân tộc Việt Nam
63 Tỉnh thành
Ẩm thực
Lễ hội
Cần biết khi đi tour
Hình ảnh
xe du lich tet
xe du lich tet
xe du lich tet
ĐỊA DANH DU LỊCH VĨNH PHÚC - ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH VĨNH PHÚC

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Nam giáp Hà Tây, phía Tây giáp Phú Thọ và phía Đông giáp thủ đô Hà Nội. Tỉnh có diện tích tự nhiên 1.371,41 km2, dân số trung bình năm 2004 có 1.161,7 nghìn người với 9 đơn vị hành chính, đó là thành phố Vĩnh Yên. Có thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh. Tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc là thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km.
Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, là cầu nối giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân. Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối với vùng KTTĐ Bắc Bộ, đặc biệt đối với thủ đô Hà Nội: kinh tế Vĩnh Phúc phát triển sẽ đảm bảo vững chắc khu vực phòng thủ cho Hà Nội; góp phần cùng thủ đô Hà Nội thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch, dịch vụ của thủ đô Hà Nội.
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong các năm qua đã cho Vĩnh Phúc những lợi thế mới về vị trí địa lý: tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc; chịu ảnh hưởng mạnh mẽ trước sự lan toả của các khu công nghiệp lớn thuộc Hà Nội như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn...; Sự hình thành và phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đến Vĩnh Phúc đã đưa tỉnh xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của đất nước như: hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng, QL2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV thành phố Hà Nội...
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng. Bởi vậy, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và vùng núi.
Vùng núi có diện tích tự nhiên 65.300 ha (đất nông nghiệp: 17400ha, đất lâm nghiệp 20300 ha). Vùng này chiếm phần lớn diện tích huyện Lập Thạch (25 xã), huyện Tam Đảo và 4 xã thuộc huyện Bình Xuyên, 1 xã thuộc thị xã Phúc Yên. Trong vùng có dãy núi Tam Đảo là tài nguyên du lịch quý giá của tỉnh và của cả nước. Vùng này có địa hình phức tạp, khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông.
Vùng trung du kế tiếp vùng núi, chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông - Nam. Vùng có diện tích tự nhiên khoảng 24.900 ha (đất nông nghiệp 14.000ha), chiếm phần lớn diện tích huyện Tam Dương và Bình Xuyên (15 xã), thị xã Vĩnh Yên (6 phường xã), một phần huyện Lập Thạch (11 xã), thị xã Phúc Yên. Quỹ đất đồi của vùng có thể xây dựng công nghiệp và đô thị, phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp kết hợp chăn nuôi đại gia súc. Trong vùng còn có nhiều hồ lớn như Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục, Liễn Sơn, Đầm Vạc là nguồn cung cấp nước cho hoạt động sản xuất, cải tạo môi sinh và phát triển du lịch.
Vùng đồng bằng có diện tích 47.000 ha, gồm hai tiểu vùng phù sa cũ và mới, tập trung ở các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường huyện Mê Linh. Đây là vùng có địa hình bằng phẳng, thuận tiện cho phát triển cơ sở hạ tầng, các điểm dân cư đô thị và thích hợp cho sản xuất nông nghiệp.
Sự phân biệt 3 vùng sinh thái rõ rệt là điều kiện thuận lợi cho tỉnh bố trí các loại hình sản xuất đa dạng.
Vĩnh Phúc có tiềm năng to lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn. Tại đây có một quần thể danh lam thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng: rừng quốc gia Tam Đảo, Thác Bản Long, Hồ Bò Lạc, Hồ Đại Lải, Hồ Làng Hà, nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang nặng dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Tháp Bình Sơn, Đền Hai Bà Trưng, Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu.
Cho đến nay, đầu tư khai thác nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đặc sắc phục vụ cho phát triển kinh tế của tỉnh còn rất hạn chế.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA BÁO ÂN VĨNH PHÚC:
Chùa Báo Ân thuộc phường Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên, được xây dựng ở thế kỷ XII đời vua Lý Cao Tông (1176 - 1210). Đây là một trong số ít ngôi chùa thời Lý còn lại đến ngày nay. Chùa làm trên một quả đồi cao, xưa gọi là rừng Cấm, cây cối xum xuê, bốn bề lộng gió, phong cảnh đẹp, tĩnh tại, đậm chất vi vu, u tịnh của chốn thiền tôn.
Theo văn bia, ngọc phả thì chùa đã có từ lâu, đến thế kỷ XII, con trưởng của vua Lý Cao Tông là Thái Tử Sâm đã cúng hơn một trăm mẫu ruộng, hai nghìn quan tiền để tu bổ chùa, tu bổ xong Thái Tử còn bỏ ra bảy trăm quan tiền nữa để làm tiệc cúng giàng. Đây là cuộc trùng tu rất lớn do Nguyễn Công là một võ tướng có uy tín lúc bấy giờ được cử trực tiếp chỉ đạo tu sửa. Ông đã vận động các bậc cung phi và nhiều chúng sinh trong nước đóng góp cho công trình. Và kết quả là, như trong văn bia đã nói “cột sơn hoa thắm, màu ngọc tươi chiếu rọi non sông, cung điện huy hoàng, ánh nhật nguyệt chói ngời sáng láng, tượng phật trang hoàng, toà sen đĩnh đạc. Chuông to gác phượng, chẳng bao lâu tu tạo đã xong, khánh quý khám rồng, vẻ lộng lẫy uy nghiêm rõ rệt...” Tu bổ xong chùa, võ tướng Nguyễn Công lại bỏ ra hơn một nghìn quan tiền để mua hơn một trăm mẫu ruộng cúng cho chùa làm ruộng oản.
Đến thế kỷ XIV đời vua Trần Anh Tông, chùa Báo Ân lại được công chúa Hưng Nương cấp nhiều tiền của tu bổ, tôn tạo. Để ghi nhớ công lao to lớn của công chúa, nhân dân ta đã lập ban thờ ngài ở chùa này.
Qua đó có thể nói rằng, thời Lý - Trần chùa Báo Ân được vua và các nhà quyền quý quan tâm tu bổ, xây dựng với quy mô rất to lớn, rất đẹp và là một trong những trung tâm phật giáo quan trọng ở nước ta.
Trải qua những thăng trầm biến cố của cả nghìn năm lịch sử, đến nay chùa Báo Ân vẫn còn đó song có nhiều biến đổi. Các toà kiến trúc cổ của chùa như: Tiền đường, thiêu hương, thượng điện, nhà tổ, điện thờ công chúa Hưng Nương và điện thờ mẫu do xuống cấp bị mục nát nên nhân dân đã dỡ bỏ. Hiện nay hệ thống chùa được xây dựng lại với quy mô to lớn hơn, kiến trúc bằng bê tông cốt thép, mái lợp ngói mũi, rất chắc khoẻ.
Hiện tại chùa Báo Ân còn một số di vật cổ rất có giá trị. Tượng pháp có: Ba pho Tam Thế, một pho A Di Đà, một pho Di Lặc, một pho Thích Ca sơ sinh, một pho Đức ông và một pho Thánh Tăng. Tượng thần có một pho công chúa Hưng Nương ở tư thế ngồi toạ thiền trong cỗ khám được trang trí hết sức tinh tế. Nhìn chung tượng chùa Báo Ân không lớn nhưng rất đẹp về tạo dáng và thành công về mỹ thuật điêu khắc gỗ cổ dân gian, về đặc tả theo tích chuyện của từng nhân vật trong hệ thống tượng chùa thế kỷ XVIII.
Đặc biệt chùa Báo Ân có một bia đá “Báo Ân thiền tự bi ký” (bài ký bia chùa Báo Ân). Bia khắc tháng 12 năm Trị Bình Long ứng thứ 5 (1209). Đây là tấm bia thời Lý còn lại duy nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc. Bia cao 1m40, rộng 0m85, dày 0m14, đặt trên lưng rùa đá mai trơn, đầu thò dài, chân 4 móng choãi vẻ nặng nhọc. Bia khắc cả 2 mặt với 1498 chữ Hán, nét chữ sắc sảo theo lối chữ trân thời Lý rất đẹp. Nội dung bài ký do Nguỵ Tư Hiền soạn với lối văn biền ngẫu, đăng đối, súc tích. Bài ký đã miêu tả cảnh chùa Báo Ân ở thế kỷ XII hết sức lộng lẫy, huy hoàng và công đức bố thí làm chùa của Thái Tử con trưởng vua Lý Cao Tông và võ tướng Nguyễn Công trong cuộc trùng tu sửa chữa chùa năm đó. Cuối bài ký là một bài minh viết theo lối kệ nhà phật, mô tả cảnh đẹp của chùa sau khi tu sửa và công đức của những người theo phật pháp ở đây. Nội dung tấm bia này đã được hai tác giả Ngô Thế Long - Băng Thanh đọc, dịch và giới thiệu trong tuyển tập thơ văn Lý - Trần.
Với giá trị về mỹ thuật trang trí điêu khắc trên đá thế kỷ XII và nội dung văn tự chữ Hán như kể trên, bia đá chùa Báo Ân là một báu vật quý hiếm trong kho tàng di sản văn hoá của dân tộc ta nói chung và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.


--------------------------------------------------------------------------------

TAM ĐẢO VĨNH PHÚC:
Ai cũng biết Tam Đảo là một danh từ địa lý nhưng dùng để chỉ một vùng đất có biển bao bọc bốn bề. Nhưng đây là vùng núi, tại sao lại mang tên đảo? Vì ba ngọn núi này ở độ cao trên nghìn mét so với mặt biển, luôn có mây trắng bao quanh, đứng ở xa ngước trông nó giống như ba hòn đảo nhô lên mặt sóng nước muôn trùng. Do đó, người ta đặt cho ba ngọn núi là “Tam Đảo”.
Tam Đảo cùng với Sapa, Đà Lạt là ba vùng núi có khí hậu ôn đới dùng làm nơi nghỉ mát rất tốt. Khi mặt trời mùa hạ trút ánh nắng chói chang nóng như thiêu như đốt trên vùng đồng bắng, thì ở đây nhiệt kế không nhích lên quá hai mươi bảy độ. Ở Tam Bảo một ngày chia làm bốn mùa: buổi sáng trời dịu mát như đầu xuân, trưa nắng ấm có thể tắm nước suối, chiều se lạnh giống thời tiết mùa thu, tối đến hơi rét như đầu đông, ngủ phải đắp chăn dạ.
Tam Đảo không đẹp nổi tiếng bằng Đà Lạt, Sa Pa. Nhưng nó được người Hà Nội ưa chuộng vì ở cách Hà Nội không xa 87km cũng như Vũng Tàu đối với người Sài Gòn vậy. Dãy núi Tam Đảo, thuộc miền trung du tỉnh Vĩnh Phú, dài khoảng 50km, vươn lên hướng bắc với độ cao trung bình khoảng trên một nghìn mét, tiếp giáp với núi rừng Việt Bắc. Bộ phận phía nam dài khoảng 10km, thấp dần xuống, rồi lặn vào đồng bằng hai huyện Kim Anh, Đa Phúc.
Vùng núi Tam Đảo có nhiều cảnh đẹp đáng đề vịnh ngâm thơ như vậy, nhưng trước kia, khi nước ta còn bị thực dân Pháp cai trị, người dân ở đây không dám bén mảng đến. Từ đầu thế kỷ hai mươi 1901, thực dân Pháp đã đuổi dân làng vùng này, xây nên một khu cấm địa để dành riêng cho chúng đến ăn chơi dưỡng sức. Những cái tên khu toàn quyền, khu Bảo Đại… ngày xưa còn nhắc đến thời kỳ vàng son của bọn tây cai trị và bọn vua quan phong kiến tay sai đã sụp đổ. Chúng đã đày tù chính trị và bắt phu lên phá rừng mở đường, bạt núi. Xây xong khu nghỉ mát này, hàng ngàn người đã ngã xuống vì bệnh tật, vì đòn roi. Chúng đem vùi xác chết trên sườn đồi thành nghĩa địa.
Từ sau ngày miền bắc giải phóng, Tam Đảo được mở rộng. Những ngôi nhà sàn xây dựng theo phong cách dân tộc mọc lên san sát bên sườn đồi, tiếp đón cán bộ và nhân dân lao động khi ngày hè đến. Vào một ngày tốt trời, mời bạn leo lên thăm ba ngọn núi mang tên là “đảo” này. Đó là ngọn Phú Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị, kể theo thứ tự từ hướng bắc xuống hướng nam.
Phú Nghĩa là đỉnh cao nhất, khoảng 1.500m. Ở đây có hai ngọn núi gọi là Hồi Hương và Quế Phụ, vì trên hai ngọn núi này mọc nhiều cây hồi và cây quế. Đến mùa hồi ra hoa toả hương thơm ngát. Trong rừng ríu rít những đàn chim lông cánh có nhiều màu sắc rất đẹp. Dưới chân núi có dòng suối tuôn nước vàng hoe, vì vậy mà nó được đặt tên Suối Vàng, còn có tên chữ Kim Tuyền. Đứng ở đây, những ngày trời quang mây tạnh, nhìn về miền ngược, núi rừng Việt Bắc hiện lên một màu xanh nhấp nhô trùng điệp. Nhìn sang phía Hà Tây, ngọn Tản Viên của dãy núi Ba Vì vươn cao sừng sững. Nhìn về xuôi, ruộng đồng bát ngát, sông ngòi uốn khúc lượn quanh. Khi trời nhiều mây, nhìn về từ hướng một màu trắng đục sương mù bao phủa. Lúc ấy ta có cảm giác như đang đứng trên một hòn đảo giữa đại dương, chỉ còn thấy đỉnh Tản Viên nổi lên bồng bềnh như một hòn đảo cách xa.
Cảnh đẹp thiên nhiên của Tam Đảo nay được bàn tay lao động tô điểm thêm lộng lẫy. Tam Đảo là một vườn rau tươi tốt bốn mùa. Ở đây có vườn cây thuốc trồng đủ loại, hương bay ngào ngạt. Những đồi chè, những cánh đồng bông, thuốc lá của nông trường Tam Đảo ngày càng mở rộng diện tích đóng góp tài nguyên làm giàu cho đất nước.
Núi được gọi là Tam Đảo vì ở khoảng giữa dãy có 3 ngọn núi cao vút: Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị tính từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tựa như 3 hòn đảo nổi bồng bềnh giữa biển mây bao phủ.
Truyền thuyết:
Chuyện kể rằng trên núi Tam Đảo có một người con gái khoẻ mạnh, tóc nàng dài mượt như dòng suối e ấp, môi nàng hồng đỏ như hồ xanh, da nàng trắng như mây trời Tam Đảo. Nàng che thân bằng vỏ cây, làm lều ở trên cây, đi lại truyền nhảy nhanh như con sóc, nhẹ như vượn, nhặt đá ném thú rừng và chim muông sống.
Giặc Ân sang cướp nước ta, thế giặc rất mạnh. Vua Hùng cho sứ đi các trang động trong nước cầu người ra dẹp giặc. Người con gái xuống núi về chầu vua, xin được đi đánh giặc. Ra trận chỉ lấy đá mà ném, giết được nhiều giặc, đánh với giặc nhiều trận ở ngay cửa ngừ thành Phong Châu, ngã ba Bạch Hạc (nay thuộc là địa phận huyện Vĩnh Tường).
Vua Hùng thứ 6 đã già, muốn thử tài trong số các con để truyền ngôi. Lang Liêu dâng bánh trưng, bánh dầy tượng trưng của trời đất, cho vua Hùng và được nối ngôi vua. Đến ngày lập hoàng hậu chàng bỗng thấy nhớ da diết người con gái xinh đẹp đó cùng mình đánh giặc Ân thuở nào. Nhà vua trẻ trở lên vùng núi Tam Đảo mong gặp lại bóng hồng. Ngày lại ngày trôi qua nàng vẫn đâu đó xa ngút giữa núi rừng trùng điệp. Nhà vua buồn bã chuẩn bị ra về thì đêm đó, mơ thấy thần hiện về báo mộng: "Ngày mai nhà vua sẽ được gặp người đẹp". Sáng hôm sau, từ sương mờ Tam Đảo, trên con đường nhỏ, nàng tiên Tam Đảo đang đi đến. Nhà vua mừng rỡ chạy ra gặp mặt. Nàng vẫn đẹp như ngày hai người gặp nhau. Tóc nàng vẫn dài mượt như dòng suối e ấp, môi nàng vẫn hồng đỏ như hoa núi, mắt nàng vẫn trong veo như nước hồ xanh và da nàng vẫn trắng như mây trời Tam Đảo. Nhà vua đón nàng về cung làm lễ cưới nàng được tôn là bà chúa Thượng Ngàn của núi rừng Tam Đảo và được lập đền thờ ngay sát chân ngọn Thiên Nhị, trên đường lên tháp truyền hình.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA CHI ĐÔNG VĨNH PHÚC:
Chùa có tên chữ là Phúc Long tự (chùa Phúc Long), thuộc thôn Chi Đông, xã Quang Minh, huyện Mê Linh. Năm 1993, chùa cùng với đền Chi Đông (được xây dựng liền kề chùa) đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là cụm di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia. Chùa có giá trị tiêu biểu về kiến trúc cũng như nghệ thuật điêu khắc gỗ, tạc tượng và còn lưu giữ được nhiều loại di vật, cổ vật quý từ thời Lê, Nguyễn.
Chùa được làm vào thời Hậu Lê, niên hiệu Chính Hòa thứ 14 (1693), gồm tam quan 2 tầng 8 mái, chùa chính, nhà tổ và hành lang tả, hữu. Tuy nhiên, như hầu hết các di tích khác trong vùng đã bị thời gian với những biến cố lịch sử và thiên nhiên làm thay đổi, hiện chùa Chi Đông còn chùa chính và nhà Tổ, khá bề thế, đồ sộ. Chùa chính gồm tòa tiền đường 9 gian nối với thượng điện 5 gian theo kiểu chữ “đinh”. Toàn bộ mái chùa được làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái, riêng mái hai gian đầu hồi được làm nhô ra và cao hơn mái tiền đường một chút để tạo nên lầu chuông và gác trống. Nhà Tổ ở phía bên trái chùa gồm 2 toà 7 gian tạo thành hình”chuôi vồ”, kiến trúc theo kiểu “chồng bồn kẻ truyền”, cột xà chắc khỏe. Nhìn chung, các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ ở chùa đều là các loại gỗ tốt, được gia công với kỹ thuật mộng sàm chuẩn mực, tương đối bền vững.
Chùa Chi Đông có nhiều bức chạm khắc với hình thức và nội dung phong phú. ở tất cả các kẻ phía trước chùa và các dép hoành kê đệm đòn tay đều trang trí các hình hoa lá, vân xoắn, chữ triện hay phượng, ly, long mã. Riêng các bức cốn, đã được những nghệ nhân dân gian tài hoa tạo thành các tác phẩm nghệ thuật với trình độ điêu luyện, hết sức tinh xảo như cốn nách ở tòa tiền đường, các bức cốn ở hai bên tả hữu của thượng điện chạm các đề tài long - ly quy phượng, mai điểu, tùng lộc...rất sinh động. Đó là những bức cốn đẹp, đạt trình độ thẩm mỹ cao của nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian.
Có thể nói nghệ thuật điêu khắc ở chùa Chi Đông rất tinh tế. Các bức chạm có bố cục nội dung phong phú mà chặt chẽ, kỹ thuật được sử dụng ở đây là chạm nổi, đục thủng, chạm lộng, bong kênh với những đường nét chạm khắc tỉ mỉ, sắc gọn. Với nội dung đề tài tả về các con vật vũ trụ quen thuộc như tứ linh, hay các loài thủy tộc và muông thú khác, cùng với cỏ cây hoa lá hòa với thiên nhiên, thể hiện những ước vọng thanh bình, dung dị của cuộc sống của con người đương thời.
Cùng với kiến trúc đồ sộ và nghệ thuật điêu khắc tuyệt mỹ, chùa Chi Đông còn có một hệ thống tượng đẹp, gồm 13 pho, được làm bằng gỗ và đất luyện. ở tiền đường có 4 pho, theo thứ tự từ trái sang phải là: tượng Đức Ông, cặp tượng Hộ Pháp(Khuyến Thiện Trừng ác), tượng Thánh Tăng. ở thượng điện có 6 tượng được bày theo từng cấp, gồm Di đà Tam tôn, Quan Âm Nam Hải, Ngọc Hoàng và Thích Ca cửu long. Mỗi pho tượng là một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo với những đường nét chau chuốt kỹ lưỡng đến từng chi tiết, từng hoa văn trang trí kết hợp với kỹ thuật sơn thếp lành nghề.
Giá trị kiến trúc và nghệ thuật tạc tượng cùng với các đề tài trang trí mỹ thuật chạm khắc gỗ dân gian đã làm nên giá trị văn hoá tiêu biểu của chùa Chi Đông. Một trong những di tích quý của tỉnh.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA ĐỘNG LÂM VĨNH PHÚC:
Chùa Động Lâm còn gọi là chùa Hạ, thuộc xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, cách thành phố Vĩnh Yên (tỉnh lỵ Vĩnh Phúc) 4km về phía Tây Bắc theo đường quốc lộ số 2. Chùa Động Lâm được tạo dựng không chỉ là nơi tu hành của các tín đồ Phật giáo mà một thời còn là trung tâm sinh hoạt làng xã trong hoàn cảnh đất vua, chùa làng thời phong kiến. Đây là ngôi chùa tiêu biểu cho tín ngưỡng tôn giáo kết hợp với tín ngưỡng bản địa và triết lý Phương Đông.
Chùa được xây dựng ở giữa khu dân cư trù phú, phía trước có hồ nước rộng. Tam quan chùa có gác chuông, ở đây lưu giữ một quả chuông lớn Động Lâm tự chung đúc năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) ghi tên những người công đức tu sửa chùa. Sân chùa có một bia đá tạo thời Lê Trung Hưng niên hiệu Đức Long (1629), diềm bia chạm khắc những hình hoa văn mang đặc trưng của nghệ thuật thế kỷ XVII. Điều đó có thể cho phép chúng ta đoán định rằng chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII, đã trùng tu lớn vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) và hiện nay gồm 2 tòa: Bái đường và thượng điện, bố cục kiến trúc theo kiểu chữ “đinh”.
Giá trị tiêu biểu ở chùa Động Lâm là nghệ thuật tạc tượng tròn của các nghệ nhân dân gian từ những thế kỷ trước. Hệ thống tượng đẹp và khá phong phú bao gồm cả tượng Phật, tượng Thần. Toàn bộ hệ thống tượng được sơn son thếp vàng, màu sắc hài hòa, được bài trí trong thượng điện theo thứ tự từng lớp từ cao xuống thấp, ở giữa sang hai bên tả hữu, gồm các tượng: Tam thế, Di Đà tam tôn, Tuyết Sơn, Ngọc Hoàng, Thích Ca Cửu Long, Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn (hay Quan Âm Nam Hải), Quan Âm Tọa Sơn, Tứ Bồ Tát, Thập Điện Diêm Vương, Thánh Tăng, Đức Ông...Tiêu biểu nhất là bức tượng Quan âm Thiên thủ Thiên nhãn được tạc bằng gỗ, cao 2,7m, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (pho Quan Âm Nam Hải hiện ở chùa là bản sao). Đây là bức tượng lớn nhất và có niên đại sớm nhất của chùa. Tượng được tạc rất đẹp, ngồi thiền trên tòa sen, đội tòa sen là đầu người có khuôn mặt hình thủy quái, tất cả được đặt trên đế hình lục lăng chia làm 3 tầng trang trí tỉ mỉ, chau chuốt. Toàn bộ phần tượng và đế là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ tài tình, hài hòa cả về nội dung và hình thức, với trình độ kỹ thuật tinh xảo, hoàn mỹ, mang sinh khí của nghệ thuật phật giáo thế kỷ XVII.
Bên cạnh đó, ở chùa Động Lâm, hình tượng Quan Âm Tọa Sơn bồng một đứa bé (vì thế còn gọi là Quan Âm Tống Tử) với Kim Đồng và Ngọc nữ ở hai bên đã được dân gian hóa thành hình ảnh Quan Âm Thị Kính hay còn có tên gọi khác là Mụ Thiện, tượng này mang phong cách thời Lê xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVII. Cũng khoảng thời gian này, chùa Động Lâm có các tượng tứ Bồ Tát (ái, Ngữ, Sách và Quyền Bồ Tát), tượng đứng trên tòa sen, đầu đội mũ thất phật, tay thon dài, chắp trước ngực, cũng được xem là 4 tác phẩm rất có giá trị từ thời Lê.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA HOA DƯƠNG VĨNH PHÚC:
Là ngôi chùa của tổng Tuân Lộ xưa nên còn gọi là chùa Tuân Lộ, nay thuộc thôn Thượng, xã Tuân Chính, cách huyện lỵ huyện Vĩnh Tường khoảng 2km về phía Tây.
Chùa Hoa Dương được xây dựng thời Hậu Lê, năm 1680, còn lại cho đến ngày nay là một di tích có kiến trúc khá đồ sộ, nguy nga, mặt bằng hình chữ “công” gồm 3 toà chính: Tiền đường (7 gian), thượng điện (4 gian) và nhà tổ (5 gian), tổng diện tích 262m2 cùng 2 nhà hành lang gồm 20 gian với diện tích 196m2, phía trước sân còn cây Bồ Đề cổ thụ trăm năm tuổi và các loài cây: Đại, Ngâu, Lan, Sấutạo nên không khí thâm nghiêm, u tịch nơi cửa thiền.
Về kiến trúc: Kết cấu bộ vì theo kiểu thức “chồng rường giá chiêng”, hệ thống cột chịu lực đều bằng gỗ lim to, chu vi cột 1,5m và đều được kê trên chân đá tảng vuông, to mỗi chiều 75cm để chống mối và chống ẩm.
Về mỹ thuật: Giá trị nổi bật của chùa Hoa Dương là nghệ thuật điêu khắc, được biểu hiện ở hệ thống tượng tròn và các tác phẩm điêu khắc gỗ (y môn, tranh kệ, hoành phi, câu đối). Đó là các lớp tượng cơ bản, đại diện chung cho hệ thống tượng được bài trí trong một ngôi chùa thờ phật theo phái Đại thừa ở miền Bắc Việt Nam, gồm các lớp: Bộ tượng Tam thế phật, Di Đà tam tôn phật, Thích ca cửu long, tứ Bồ tát, tứ Thiên vương, tượng Đức ông, Thánh hiền, Hộ pháp phật và tượng phật Tổ. Tất cả các pho tượng phật đều được tạo từ gỗ mít già, nguyên lõi, kỹ thuật công phu, tỉ mỉ, nghệ thuật sáng tạo, điêu luyện, thể hiện khả năng tư duy thẩm mỹ nghệ thuật cao và hoà nhuyễn trong nhận thức giá trị tuyệt đối “không” của phật pháp. Giá trị chân, thiện, mỹ của đạo phật bắt nguồn từ những chân lý giản đơn của cuộc sống thường nhật qua hàng nghìn năm tu luyện, bồi dưỡng, lưu truyền đã trở thành một bộ phận cơ bản của tâm hồn Việt Nam, tâm hồn nghệ sỹ khi thổi hồn cho các pho tượng hoặc từ gỗ, đá, hay đất mà trở nên lung linh, huyền ảo nhưng rất thực trước mỗi người khi bước chân vào chùa chiêm bái phật.
Các tác phẩm điêu khắc gỗ có: 8 bức y môn (biển hoành) đều chung kích thước (dài 3,0m rộng 0,6m) được chạm nổi, sơn son thếp vàng các đề tài thiên nhiên: Hoa lá, vân mây, cổ thụ, chim muông vô cùng gần gũi, tự nhiên và sống động, chính giữa đục các “đại tự” mang ý nghĩa tụng ca, răn dạy, đan xen giữa phật pháp và triết lý Nho học. 8 bức “tranh Kệ” khắc các bài kệ bằng chữ Hán với nội dung về phong cảnh thiên nhiên và những đề tài liên quan đến việc hoằng dương phật pháp, là những thi ca tuyệt hảo lồng trong tác phẩm điêu khắc tài ba, trên nền của kỹ thuật chạm khắc, trang trí phóng khoáng, bố cục hài hoà, sơn thếp đẹp, xứng đáng là di sản cho muôn đời hậu thế chiêm ngưỡng và ngẫm suy. 8 bộ hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, câu chữ chuẩn chỉnh, ngay ngắn, ý tứ sâu xa, ngữ nghĩa bao trùm, chân tâm, chân thiện. Cùng với các di vật cổ: Chuông đồng, cây hương, bia đá,.đồng thời là những tư liệu văn tự cổ trên đá lưu mãi để muôn đời hậu thế, thập phương du khách, tăng ni phật tử tìm cơ hội đến chiêm bái nơi cảnh thiền ẩn lặng dấu quê.


--------------------------------------------------------------------------------

DANH THẮNG TÂY THIÊN VĨNH PHÚC:
Nằm trên sườn ngọn núi Thạch Bàn thuộc địa phận xã Đại Đình, huyện Tam Đảo.
Miền đất Phật Tây Thiên có phong cảnh hữu tình với Thiền Viện Trúc Lâm, những mái đình cổ xưa, suối Vàng, Thác Bạc, khe Trường Sinh, suối Giải Oan, cây đa 9 cội...
Theo Ngọc phả và kết quả nghiên cứu mới nhất, Tây Thiên là nơi thờ nữ chúa Tam Đảo: bà Lăng Thị Tiêu. Sau khi giúp Nhà nước Văn Lang đánh giặc ở thành Phong Châu, bà đó kết duyên cùng Lang Liêu (vua Hùng thứ 6). Bởi vậy sắc phong các triều đại phong kiến tôn bà là “Quốc Mẫu Tây Thiên”. Huyền thoại kể rằng bà vốn là một trong bảy nàng tiên xuống núi để chữa bệnh cho dân, trừ bạo nghịch cho nước và cứu độ chúng sinh. Câu chuyện Quốc Mẫu được ghi chép trong Ngọc phả, trong các văn bia hệ thống đền chùa Tây Thiên, là sự uy linh và vẻ đẹp đức độ của bà khiến cho các bậc anh hùng hào kiệt, các thiện nam, tín nữ, các trai thanh gái lịch bao đời nay đã phải trèo non lội suối chống gậy Tây Thiên chiêm ngưỡng cảnh bồng lai.


--------------------------------------------------------------------------------

DI TÍCH ĐỒNG ĐẬU VĨNH PHÚC:
Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu được phát hiện vào khoảng tháng 2/1962. Từ cuối năm 1965 đến cuối năm 1999. đã tiến hành 6 đợt khai quật, với diện tích gần 740 m2. Trên đất nước ta chưa có một di tích khảo cổ nào được các cơ quan khảo cổ quan tâm khai quật nhiều lần như vậy. Điều này cho thấy tầm quan trọng của di chỉ Đồng Đậu đối với việc tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Việt Nam cũng như quá trình hình thành Nhà nước đầu tiên của dân tộc.
Đồng Đậu cũng là nơi phát hiện được nhiều di vật bằng xương, sừng nhất trong hàng trăm địa điểm đó được khai quật ở nước ta (trước năm 1983), không những nhiều về số lượng, phong phú về loại hình mà trình độ kỹ thuật chế tác cũng đạt đến đỉnh cao.
Điều kiện thiên nhiên ở đây rất thuận lợi cho cuộc sống của con người. Với đất phù sa màu mỡ, lại sẵn ao hồ đầm lầy, gần sông, tiện nước, con người đã định cư lâu dài ở đây và từ những ngày đầu tiên họ đã quen thuộc với nghề làm ruộng. Nghề nông đã có trình độ khá cao và giữ vai trò chủ đạo trong các ngành sản xuất, có thể lúa nước là nguồn cung cấp lương thực chính.
Bên cạnh nghề nông, nghề chăn nuôi cũng đã ra đời và dần phát triển từ thấp lên cao. Người Đồng Đậu cũng chú ý đến săn bắn và đánh cá.
Bên cạnh nghề nông, thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống. Đó là những nghề làm đá, đan lát… Nghề luyện, đúc đồng ra đời muộn hơn nhưng có ảnh hưởng lớn đến đời sống.
Trên cơ sở đời sống kinh tế ngày một nâng cao, cư dân Đồng Đậu luôn chú ý đến cái đẹp. Nhận thức về cái đẹp thể hiện trên kiểu dáng và hoa văn đồ gốm, trên sự phong phú về số lượng cũng như kiểu dáng khác nhau của đồ trang sức, trong các pho tượng đất đỏ nặn hình bò, gà và đầu người…
Xã hội lúc này vẫn là công xã thị tộc; và với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước ra đời, vai trò của người đàn ông đã được đề cao hơn, xã hội có thể thuộc chế độ công xã thị tộc phụ hệ.
Sự phát triển của sức sản xuất ở giai đoạn cuối Đồng Đậu đã đẩy mạnh quá trình phân hóa thành các giai cấp xã hội đưa đến sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, để thành lập Nhà nước trong giai đoạn tiếp theo.
Tầm quan trọng của hiện vật Đồng Đậu không chỉ ở số lượng, mà cái làm nên vóc dáng Đồng Đậu là một quá trình diễn biến văn hoá từ lớp sâu nhất lên trên mặt, phản ánh một quá trình phát triển liên tục để đi đến hình thành Nhà nước phôi thai đầu tiên của dân tộc.
Có thể nói giai đoạn Đồng Đậu là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất ở đây, tầng văn hoá rộng và dày, hiện vật phong phú đa dạng; bên cạnh đó đồ đá, đồ gốm, đồ đồng, đồ xương cũng phát triển.


--------------------------------------------------------------------------------

ĐỀN BẠCH TRÌ VĨNH PHÚC:
Đền ở thôn Long Trì, thị trấn Hợp Hoà, huyện Tam Dương, nằm cách quốc lộ 2B (đi Sơn Dương - Tuyên Quang) 1km, cách ngã ba Tam Dương 7km.
Đền Bạch Trì có kiến trúc 3 gian thờ dọc, 2 gian ngoài là tiền tế, gian trong cùng bố trí thượng cung bởi sàn ván gỗ nâng cao cách nền 1,60m. Thượng cung bưng ván xung quanh, phía mặt tiền có cửa võng, tạo thành nơi kín đáo, thâm nghiêm - nơi thần ngự. Diện tích mặt bằng kiến trúc đền là 76m2. Kết cấu vì kèo theo dạng thức “chồng rường giá chiêng”, gồm 5 bộ vì, 4 hàng chân (20 cột gỗ lim) kê trên đá tảng tạo thế vững chãi cho ngôi đền. Đây là loại hình di tích ở vùng đất rộng, người thưa, nơi thờ tự thường được dựng trên một quả đồi - gò nhưng kiến trúc nhỏ, đáp ứng nhu cầu sử dụng phù hợp với địa bàn dân cư thưa thớt.
Tuy vậy, đền Bạch Trì cũng còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc gỗ truyền thống với trình độ kỹ thuật tinh xảo, khả năng tư duy sáng tạo, nghệ thuật sâu sắc và tâm nghề chí thành. Các bức chạm gỗ dân gian về các đề tài “tứ linh” (Long - Ly - Quy - Phượng) với các mô típ: Rồng ổ, phượng càm thư, lân cõng chữ thọ,…được thể hiện rất sắc nét, duyên dáng, uyển chuyển, sống động qua kỹ thuật đục bong, chạm lộng trên các bức cốn nách, xà rồng, bức vỉ ruồi đầu hồi, cửa võng,…đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật chạm khắc gỗ cổ truyền của cha ông ta ở thế kỷ XIX, góp phần tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống được lưu giữ tại đền Bạch Trì, làm khuôn mẫu cho lối trang trí kiến trúc thờ tự cộng đồng của vùng quê trung du Bắc Bộ.
Đền thờ tam vị: Đệ nhất Sơn Lạc Đại Vương, đệ nhị Sơn Lạc Đại Vương, đệ tam Sơn Lạc Đại Vương, thường gọi là 3 anh em Lã Lạc, đã giúp Lã Gia (Thừa tướng nhà Triệu mà Triệu Đà là người khởi nghiệp) cùng nhân dân trong vùng và nước âu Lạc chống sự xâm chiếm của triều Tây Hán ở phía Bắc thời kỳ khoảng thế kỷ I trước công nguyên.
Toạ lạc trọn vẹn trên một quả đồi có tên đồi Rừng đền, diện tích khoảng 3ha, cao hơn mặt ruộng xung quanh 30 - 40m. Phía trước đền (hướng Nam) là dòng Sơn Tang (tức sông Phan) lững lờ uốn lượn quanh năm, tạo nên một vùng trũng, rộng, dân địa phương gọi là “Ao Bạch”, cùng rừng cây già có Đại, Sộp, Trám,…, đền Bạch Trì sẽ được quy hoạch, tôn tạo trở thành trọng điểm di tích danh thắng của huyện Tam Dương.


--------------------------------------------------------------------------------

ĐỀN PHÚ ĐA VĨNH PHÚC:
Đền Phú Đa toạ lạc trên cánh đồng xóm Giếng, xã Phú Hoa, tổng Tang Thác, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Nay thuộc xã Phú Đa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Đền thờ “Lãng Phương hầu Nguyễn Danh Thường, Tiên phong đặc tiến, phụ quốc Thượng tướng quân, tham mưu trung quân Đô Đốc phủ, Khâm sai kiểm sát thất thành”. Thời Lê - Trịnh, vì có công giúp triều đình ông được xây dựng đền từ lúc còn sống (sinh từ) để thờ mình. Đền làm thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786). Từ ngày xây dựng đến nay chưa phải đại tu lần nào nên ở đây có câu:

"Bắt đền ra đền Phú Đa,
Bao giờ đền đổ ta ra ta đền."

Thật là một công trình “vĩnh cửu”. Sở dĩ được như vậy là nhờ các nghệ nhân xưa kia đã rất thành công trong thi công kiến trúc và điêu khắc đá, mà nổi bật là việc xử lý nền móng, kén chọn nguyên vật liệu, thiết kế xây dựng và bố cục nội, ngoại thất.
Đền Phú Đa có 3 toà kiến trúc (cổng đền, đại bái, từ đường) bố cục theo kiểu chữ “Tam”. Cổng đền cách đại bái một khoảng sân, đại bái cách từ đường bởi một cống thoát nước. Vị trí đền ở giữa vùng chiêm trũng, giáp sông Hồng nên hàng năm (trước khi có đê bao) đều bị lũ lụt tràn qua. Để khắc phục điều đó, các nhà xây dựng ngày trước đã gia cố cho nền đền và các vùng phụ cận thành một gò đất cao hình nón; khi lũ lụt - sóng xô đến, nước sẽ bị cản từ xa và sức mạnh của nước lũ bị giảm dần, khi đến đền thì không còn đáng kể nữa. Nền đền lại được tạo thành nhiều cấp: Cổng đền thấp nhất rồi đến đại bái và cuối cùng cao hơn cả là nền toà từ đường. Những bậc thềm của các toà kiến trúc đều được lát những tảng đá xanh, vừa làm bậc lên xuống, đồng thời vừa có tác dụng kè đất và cản nước tràn vào đền. Rãnh thoát nước giữa đại bái vàtừ đường cũng được lát ba bề bằng đá xanh (mặt cắt của rãnh hình chữ U). Nhờ có rãnh này, nước từ hai bên mái nhà đổ xuống chảy ra rất nhanh mà không làm sói mòn nền đền. Với những tính toán công phu, những biện pháp chế ngự mưa bão, lũ lụt tài tình như thế, đã khiến cho đền Phú Đa mấy trăm năm qua không mảy may ngả nghiêng, sụt lở.
Trên nền móng vững chắc ấy là kiến trúc đền cũng được gia công hết sức chuẩn mực. Toàn bộ vật liệu làm đền đều bằng gỗ lim được kén chọn cẩn thận cả về kích thước và độ già của gỗ. Trước đây còn có 2 toà tả, hữu mạc, về sau được chuyển đến địa điểm khác để làm trường học. Các toà của đền đều có kết cấu kiến trúc kiểu tứ trụ lòng thuyền, vừa đẹp lại khoẻ. Ngoài một số chỗ được chạm trổ các hình vân mây, sóng nước, còn phần lớn kiến trúc đền Phú Đa đều được bào trơn, đóng bén, mộng sàm chặt khít, kể cả các rui trên mái cũng được bào nhẵn theo mực thước và soi đường gờ ở mép. Nhân dân ở đây kể rằng, năm 1965 xã quyết định chuyển toà tả mạc về trường học, khi dỡ vì mộng quá chặt không tháo được nên dân làng đành để cả toà mà khiêng đi, qua gần 3 cây số đến trường, toà tả mạc mộng vẫn chặt khăng như cũ không hề dệu dã. Điều đó nói lên trình độ giỏi giang về thiết kế và thi công xây dựng đền của các hiệp thợ thuở trước.
Về mỹ thuật trang trí tạo hình, đây là ngôi đền có nhiều di vật đá nhất trong số các kiến trúc cổ hiện còn ở Vĩnh Phúc. Chỉ tính những di vật được đục chạm thành tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh thì đều đã có 48 tác phẩm. Đó là những phù điêu tượng tròn quan lại, vệ sỹ, rồng, sư tử, voi, ngựa, chó, các đồ thờ: án gian, ngai, sập, bàn tấu, án thư, lư hương, đèn…và 10 bia đá còn nguyên vẹn, được khắc năm 1750 (1 bia) và 1767 (9 bia), nội dung ghi hương ước, điều lệ nghi tiết cúng giỗ hậu thần, phúc thần và liệt tổ, liệt tông, ghi khắc các điều dạy bảo con cháu biết cách ăn ở, các điều cam kết về bổn phận đối với từ đường.
Chạm khắc đá ở đền Phú Đa đã phản ánh những thành công nổi bật, trình độ cao về nghệ thuật chạm khắc, trang trí dân gian trên đá thời Lê mạt. Các nghệ nhân thời xưa đã biết căn cứ vào chất liệu và màu sắc của đá mà vận dụng và tận dụng chúng trong tạo hình cũng như trang trí nội thất kiến trúc. Với kỹ thuật chạm khắc tinh vi điêu luyện, với những đề tài thực trong cuộc sống, chạm khắc đá ở đền Phú Đa đã tạo nên cho di tích không khí vừa độ trang nghiêm mà không lạnh lùng, nhà ở của thần linh mà vẫn ấm áp hơi thở của cuộc sống con người.
Với giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, văn hiến điển chương như thế, trong tương lai gần, chắc chắn đền Phú Đa sẽ trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn của tỉnh Vĩnh Phúc.


--------------------------------------------------------------------------------

ĐÌNH BẠCH TRỮ VĨNH PHÚC:
Đình Bạch Trữ là một trong những ngôi đình lớn và cổ của Vĩnh Phúc, đình Bạch Trữ được biết đến với sự độc đáo về kiến trúc, chứa đựng những tác phẩm điêu khắc gỗ dân gian hết sức đặc sắc, nối tiếp dòng nghệ thuật chảy từ vùng Hùng Lô, Lâu Thượng qua Thổ Tang đến, như một biểu hiện cho đỉnh cao về kiến trúc của đình làng cổ truyền Việt Nam thời Lê Trung hưng.
Đình thuộc thôn Bạch Trữ, xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh. Hiện tại gồm 3 tòa: Tiền tế, đại đình, hậu cung và 2 ống muống. Về mặt bố cục có thể khẳng định rằng, vỗn dĩ khởi đầu (khoảng cuối thế kỷ XVII) đình chỉ có dạng chữ nhất với toà đại đình ở giữa, về sau người ta mới dựng tiếp toà tiền tế và tiếp sau là hậu cung; cả 3 tòa được nối với nhau bởi 2 ống muống để tạo nên hình thức mái theo kiểu chữ “Vương”, nền chữ “Tam”.
Trước đình có hồ bán nguyệt, sau hồ là bình phong kiểu cuốn thư có hình cành trúc mai sum họp. Phía sau là một sập thờ làm kiểu chân quỳ dạ cá đắp nổi hình dơi tượng cho ngũ phúc lâm môn (Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh) và tiếp nữa là một nghi môn tứ trụ. Qua một khoảng sân hẹp vào tòa tiền tế, người ta có thể cảm thấy choáng ngợp bởi kiến trúc 5 gian 2 dĩ với bộ mái 2 tầng hoành tráng. Đặc biệt ở đây còn lưu giữ được những nét nghệ thuật của thế kỷ XVII. Đó là những cốn bên với rồng, lân, vân xoắn, đao trong một thể hoạt mang ý nghĩa gắn với tầng trời, gắn với ước vọng cầu mưa. ở gian giữa tòa này có các bức cốn mê thể hiện tứ linh trong ước vọng cầu phúc xưa: rồng cuốn thủy, phượng hàm thư, long mã và rùa. Đặc biệt, ở mặt trong bức cốn ngoài bên phải có hình tượng một con cua nhỏ ở bên dưới, đây là một dấu ấn thể hiện sự hòa đồng của chất dân dã giữa mảng chạm mang đầy tính quy phạm.
Tòa đại đình 3 gian 2 chái 2 dĩ, nghệ thuật thế kỷ XVII tập trung ở 2 cốn ngoài của gian giữa, các đầu dư chính và một số kẻ. Đề tài chạm khắc cơ bản là rồng. Những đề tài về con người tuy không nhiều nhưng lại rất đáng quan tâm. Chẳng hạn như bức cốn ngoài bên trái gian giữa, ở con rường trên cùng, được đặt trên mình rồng thân rắn không vẩy là hình đôi trai gái tình tự mà nam là một ông già quắc thước râu dài còn nữ là một cô gái nhỏ tuổi - một mối tình thần thánh sẽ đưa đến kết quả nảy sinh thánh nhân theo nhận thức của người xưa. Một hệ thống các hoạt cảnh khác như: trên nền rồng ở ván nong của xà nách có cảnh một phụ nữ ôm con, một tay giơ ra như thể từ chối sự đòi hỏi của người chồng; cạnh đó là cảnh đôi trai gái ngồi ôm ấp nhau rất mạnh bạo; hình tượng vũ công đội mũ tỳ lư mặc áo váy tỉa tót kỹ càng và hình ảnh nam múa quạt, nữ đeo túi ngả theo được chạm ở hai bên đầu kẻ phía ngoài bên phải. ở một đầu kẻ trước của gian bên trái lại có cảnh một ông lão ngồi câu cá với giỏ vịt để bên cạnh - hình tượng này rất gần gũi với nghệ thuật thế kỷ XVIII.
Những hình tượng có tính mạnh bạo hay dân dã trên cho thấy sự gần gũi với sinh hoạt thôn dã đương thời. Tuy nhiên những hình tượng đó được đặt ở những nơi dễ quan sát lại mang ý nghĩa ước vọng cầu thần hãy thực hiện theo như thế mà thúc đẩy cho muôn loài sinh sôi, cho mùa màng bội thu. Vì thế ý nghĩa sâu xa ở đây là ước nguyện cầu phồn thực. Bên cạnh sự phong phú về nội dung, các hình chạm đã thể hiện trình độ cao về nghệ thuật chạm khắc với kỹ thuật chạm lộng, chạm bong được quan tâm hết sức rõ rệt.
Tòa hậu là một hậu cung kép với hậu cung chính chỉ nằm gọn trong không gian 4 cột cái gian giữa, được bao ván kín, có sàn thờ, được nâng cao và nằm lọt trong tòa hậu cung 5 gian tường hồi bít đốc. Một điểm đáng lưu ý là trên ban thờ chính, phù trợ hai bên là 8 vị tướng hầu được vẽ dưới hình thức tả văn hữu võ, quan văn đội mũ cánh chuồn chếch ngắn, cầm những hòm sách, bút, quạt; quan võ đội mũ kim khôi và vác đại đao.
Đình Bạch Trữ thờ nhị vị tiên linh là công chúa Mỵ Nương thời vua Hùng và Cống Sơn thời Hai Bà Trưng, thuộc hai thời kỳ dựng nước và giữ nước gắn với lịch sử dân tộc và văn hóa tâm linh của người Việt. Nội dung thờ tự phong phú, kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc tiêu biểu đã khẳng định đây là một trong những ngôi đình có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hệ thống di tích của tỉnh Vĩnh Phúc. Đình xưa còn giữ được đến ngày nay là một kiến trúc lớn, là nơi thờ thành hoàng làng, nơi tổ chức lễ hội và các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng khác của dân cư cả một vùng tương đối rộng. Đi sâu tìm hiểu hơn nữa về nghệ thuật, về các giá trị văn hóa vật thể gắn kết với các giá trị văn hóa phi vật thể ở đình Bạch Trữ , chúng ta sẽ có được những tri thức quý báu về lịch sử văn hóa cũng như các phong tục tập quán hay những quan niệm hết sức đặc sắc có thể coi là tinh hoa văn hóa của người xưa, tại vùng đất này.


--------------------------------------------------------------------------------

THÁP BÌNH SƠN VĨNH PHÚC:
Thời Lý - Trần, ở Vĩnh Phúc đã có nhiều tháp. Tháp là một bộ phận, một phần công trình nghệ thuật quan trọng của chùa. Cùng với chùa, tháp là nơi thờ Phật có tính chất tưởng niệm và là nơi để hài cốt các nhà sư. Các tầng của tháp tượng trưng cho từng bước tu hành để lên cõi Niết Bàn của các phật tử.
Trong số tháp còn lại hiện nay chỉ có tháp Bình Sơn làn cao nhất, tên chữ là tháp chùa Vĩnh Khánh, tục gọi là chùa Then ở xã Tam Sơn (Lập Thạch). Tương truyền tháp có 15 tầng. Cứ theo các cụ ở địa phương thì trước kia, trên nóc tháp có một hình khối búp hoa sen chưa nở, bằng đất nung, tạo cho toàn thân tháp một dáng vươn lên khá đẹp. Hiện nay chỉ còn 11 tầng tháp và 1 tầng bệ, tất cả cao 16,5 mét. Tháp hình vuông, nhỏ dần về phía ngọn, Cạnh cửa tầng dưới cùng là 4,45 mét; cạnh cửa tầng thứ 11 là 1,55 mét. Tháp được xây bằng 13.200 viên gạch nung, gồm 2 loại: một loại hình vuông có kích thước là 0,22m x 0,22m, một loại hình chữ nhật có kích thước có kích thước 0,45m x 0,22m. Phần ruột tháp có một khoảng trống nhỏ chạy suốt chân tháp lên ngọn. Bên ngoài, xung quanh tháp được ốp một lớp gạch vuông, mỗi cạnh dài 0,46m, phủ kín thân tháp. Mặt ngoài của gạch ốp này đều có trang trí hoa văn rất phong phú như hoa chanh, hình lá đề, sư tử vờn cầu, rồng uốn khúc ... Có viên gạch được khắc một hình trang trí, có hình lại do 2 viên hoặc 4 viên ghép lại mới thành. Đường nét trang trí ở đây rất tinh tế, phóng khoáng, hình dáng chắc khỏe, mang đầy sinh khí của nghệ thuật dân tộc thời kỳ phong kiến tự chủ cường thịnh thời Lý – Trần (thế kỷ XII – XIII).
Những khỏa sát và nghiên cứu gần đây cho thấy gạch dùng để xây dựng tháp Bình Sơn được nung với độ lửa cao. Để cho các viên gạch có thể đứng với nhau theo một chiều cao dựng đứng mà không cần vôi vữa, những người xây dựng tháp đã sáng tạo những phương pháp lắp ghép khá độc đáo. Viên gạch được chế tác có mấu và có gờ chỉ để giữ lấy nhau, đó là phương pháp xây gạch khẩu ở chân bệ. Còn có cách khác là mỗi viên gạch có một lỗ hình thang, hai viên gạch xếp sát nhau, tạo thành một mộng cá và người ta đổ chì vào mộng cá đó để giữ 2 viên gạch với nhau, đó là phương pháp xây bằng cá chì dùng để dựng chân tháp.
Chân tháp có nhiều vành đai cánh sen chồng lên nhau làm cho khách tham quan có cảm tưởng như tòa tháp được mọc lên từ một bông sen lớn. Tầng tháp thứ nhất cao 2,27 mét, cạnh 3,30 mét, bốn mặt đều hình tổ tò vò và có sáu chữ nhật dọc, đế nào cũng có ba ô tròn trạm rồng nổi, thân rồng uốn tròn, nằm trên một nền cúc dây. Các ô rồng này lại được đặt nằm trong khung khắc chìm các cánh hoa cúc có hình dấu phẩy. Các đế có hình rồng này được trang trí là đề, hoa dây cuốn nổi. Tầng tháp thứ hai cao 1,68 mét, cạnh 2,27 mét, có một hàng cánh sen ngửa đỡ lấy những hàng gạch. Bốn khung cửa tò vò của tầng tháp này đều có mỗi bên tám khung hình chữ nhật, mỗi khung có hình đắp nổi một ngôi tháp nhỏ 5 tầng tỏa ánh hào quang với những đường chỉ chiếu ra bốn phía. Ngoài bình tháp nhỏ, ta lại gặp nhưng mô típ trang trí lá đề, cúc dây, hoa dây cuốn nổi. Ở tầng thứ tám cũng có trang trí hình tháp nhỏ. Cả 11 tầng tháp đều được trang trí bằng nhiều loại hoa văn với các hình cánh hoa cúc, sư tử vờn cầu, sóng lượn lá đề, hoa chanh ... Mỗi tầng tháp đều có nhiều hàng gạch khẩu nhô ra làm mái. Theo lão họa sĩ dân gian Nam Sơn (nguyên là ông từ chùa Vĩnh Khánh) và các cụ già trong vùng thì ở mỗi ô cửa tò vò của các tầng thấp xưa kia đều có tượng Phật Bà.
Hình rồng trang trí ở tháp Bình Sơn là rồng có sừng và cuộn tròn mình, đầu rúc vào giữa, chân đạp ra ngoài, sống lưng có vây như răng cưa, một chân trước đưa lên vuốt tóc. Hình sư tử vờn cầu ở chân bệ tháp đơn giản, hai con sư tử đều không có họa tiết và đồ án trang trí trên thân mà chỉ là hai hình trơn. Cặp sư tử ở đây không quay đầu đối nhau, đưa chân trước vờn cầu như kiểu ở một số chùa khác, mà một con tiến về phía quả cầu, một con đã tiến quá quả cầu, quả cầu nằm trên đuôi nó, còn nó quay đầu ngoảnh lại.
Về niên đại tháp Bình Sơn, một học giả thực dân là Bezacier cho ràng đây là “nghệ thuật Đại La”, có nghĩa là nghệ thuật thuộc văn hóa Đường du nhập sang Việt Nam vào thời Cao Biền làm quan đô hộ xứ giao châu (khoảng thế kỷ thứ VII). Đây là một quan điểm muốn tách công trình nghệ thuật tạo hình tuyệt tác này ra khỏi văn hóa bản địa và mang tư tưởng miệt thị dân tộc ta, đề cao công cuộc “khai hóa” của kẻ xâm lược. Ngày nay, các nhà nghiên cứu nghệ thuật tạo hình Việt Nam đã khẳng định tháp Bình Sơn là một công trình nghệ thuật của Việt Nam, do bàn tay và khối óc c

TRUYỀN THUYẾT THÁP BÌNH SƠN VĨNH PHÚC:
Có rất nhiều truyền thuyết dân gian liên quan đến ngôi tháp này.
Cánh đồng Tháp ở Tứ Yên: Các cụ nói cây tháp hiện nay vốn được xây ở giữa cánh đồng Nẫu xã Tứ Yên, Lập Thạch. Không hiểu tại sao chỉ sau một đêm mưa bão dữ dội mà cây tháp đã “nhảy” về địa phận xã Tam Sơn và ở vị trí hiện nay. Bây giờ người dân Tứ Yên vẫn gọi cánh đồng Nẫu là cánh đồng Tháp.
Con vịt vàng: Truyền thuyết kể rằng xưa kia ở phía tây tháp Bình Sơn còn có một cây tháp màu xanh. Một đêm nọ, dân xung quanh chợt nghe một tiếng ầm lớn, rồi từ phía cây tháp vọt lên trời một luồng sáng ngũ sắc. Mọi người chạy ra thì cây tháp đã biến mất, nơi vị trí cây tháp tụt xuống thành cái giếng hình tựa bàn chân khổng lồ, gót quay về phía tây nam, nước luôn thay đổi màu sắc: lúc trong vắt, lúc vàng, lúc đỏ, lúc xanh ... các cụ già quanh vùng còn kể lại vào những đêm trăng sáng thường thấy con vịt vàng bơi ở giếng. Giếng ấy hiện nay vẫn còn, nhưng người Tam Sơn chưa ai được nhìn thấy vịt vàng.
Truyện ông Ngụy Đồ Chiêm: Ngày xưa ở gần tháp Bình Sơn có một cái chợ. Mẹ con một người đàn bà không rõ từ đâu tới, dựng một cái quán bán nước bên gốc cây đa ở đầu chợ. Chú bé hàng ngày đi học, cứ nghe văng vẳng tiếng nói: “Cậu sắp sướng rồi”. Chú bé kể với mẹ. Bà mẹ mang trầu nước ra quỳ dưới chân tháp, thắp hương khấn vái. Bỗng từ trên đỉnh tháp rơi xuống ba hòn đá như hình ông đầu rau. Bà mẹ bê về lều, kê bếp nấu nước. Đun nấu mãi, đã vẫn đỏ như gạch, không ám khói.
Ít lâu sau, có mấy người khách đi bán thuốc cao ghé vào hàng uống nước. Họ cứ nhìn cây tháp rồi lại nhìn thấy hòn đá kê bếp. Một người trong bọn khách nói: Bà cụ cho chúng tôi mấy hòn đá kê bếp, chúng tôi sẽ chỉ chỗ đất tốt để đặt mộ ông cụ. Ngay đêm ấy bà cụ đưa mấy người khách về quê, đem hài cốt chồng lên táng ở chân núi Sáng, tại quả đồi dân quanh vùng gọi là núi Hình Nhân. Khi bà mẹ hấp hối, gọi con đến dặn rằng: những người khách dạo xưa bảo bao giờ con có cờ, có kiếm thì phải lên tạ mộ. Trên đường đi gặp bất cứ ai, gặp bất cứ con vật hay người đều phải chém chết. Người con lớn lên, lấy tên là Chiêm. Anh hay giúp đỡ mọi người, nên được dân làng rất yêu mến. Lúc đó trong vùng có một bọn cướp hay đến hành hạ dân lành. Anh Chiêm tập hợp những thanh niên cường tráng lên núi luyện tập, đêm về thay nhau canh gác bảo vệ dân làng. Mọi người tôn Chiêm lên làm thủ lĩnh. Thấy mình đã có cờ, có kiếm, nhớ lời dặn, Chiêm lên núi tạ mộ. Vừa ra đến ngõ, gặp người đàn bà chửa, lại đã từng giúp đỡ mẹ mình ngày trước, Chiêm không nỡ chém. Đến mộ, thấy có 2 con rắn, Chiêm cho là bố mẹ mình hiện hồn, bèn gác kiếm quỳ lễ rồi về.
Hôm sau, Chiêm huy động người lên núi vác đá về lát đường qua xã Đồng Quế bấy giờ. Đường lát chỉ một đêm là xong. Không biết có bao nhiêu người tham gia, chỉ biết sáng hôm sau, dân đi làm nhặt được mấy gánh điếu cày về làm củi. Có kẻ xấu bẩm với quan trên là ông Chiêm đang chiêu mộ dân binh để mưu phản. Triều đình cho quân đi đánh dẹp. Nhưng quan quân cứ sang đến đất Lập Thạch là voi ngựa lại hí lên, không chịu đi nữa, phải quay về. Thanh thế ông Chiêm, vì thế ngày càng mạnh. Triều đình gọi ông là Ngụy Đồ Chiên.
Mấy người khách bán thuốc cao ngày nào, ở bên Tàu xem thiên văn, biết là ông Chiêm không chém người, chém vật (nếu chém, thì ông chỉ đựoc làm một chức quan nhỏ, đủ sống cả đời. Nhưng không chém, ông có thể làm vua, sẽ đánh sang cả Tàu). Họ tìm cách diệt ông. Họ đến gặp ông, và nói: ngôi mộ của cụ nhà đã phát, nhưng còn thiếu tay long. Ngài phải cho đào con lạch từ núi Sáng về qua mộ thì mới chóng thành công. Ngụy Đồ Chiếm lập tức cho đào ngay. Con lạch đào xong, ông bỗng thấy rã rời thân thể. Giữa lúc đó quân triều đình lại tràn sang, dân binh tan vỡ. Ngụy Đồ Chiêm ôm kiếm chạy vào cây tháp rồi biến mất.
Đài quan sát ca nô của Pháp: Hồi những năm 1947 – 1948, trên đỉnh tháp Bình Sơn có một cây đa to. Các cụ già bảo rễ của nó xuyên qua lòng tháp ăn xuống đất. Có dạo du kích của ta đã leo theo rễ này lên tầng trên cùng của tháp để theo dõi hoạt động của ca nô tầu chiến Pháp, báo cho ban chỉ huy lập kế hoạch tác chiến, giành thắng lợi lớn. Sự kiện này chỉ thấy người dân vùng Tam Sơn kể lại, chưa thấy ghi trong các cuốn lịch sử viết về Lập Thạch và được coi như một truyền thuyết dân gian mới xung quanh tháp Bình Sơn.
Ngày nay, tháp Bình Sơn cũng là một trong những di tích mà du khách đến chùa Vĩnh Khánh tham quan. Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc) là một trong ba điểm để nghiên cứu, tham quan Phật học thuộc dòng thiền phái Trúc Lâm ở Việt Nam.
Xây dựng trên nền một thiền tự cổ - Thiên Ân thiền tự tương truyền có từ thế kỷ III, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên khánh thành ngày 27-11-2005 cách Hà Nội khoảng 85km, thuộc xã Đại Đình (Tam Đảo, Vĩnh Phúc). Nằm trên quả đồi với diện tích rộng khoảng 4,5ha, rừng ngoại vi rộng 50ha, công trình mang đậm dấu ấn một ngôi chùa Việt Nam với phong cách kiến trúc đương đại. Phía sau chùa là núi rừng xanh tươi, trước là một cánh đồng thẳng cánh cò bay. Là một trong ba thiền viện lớn nhất cả nước, đây cũng là địa điểm du lịch hành hương lý tưởng của Vĩnh Phúc. Viếng chùa, du khách không chỉ dâng hương cầu may, cầu tài mà còn được thưởng ngoạn cảnh đẹp núi rừng trùng điệp ở Tam Đảo và khí hậu mát mẻ trong lành, tận hưởng cảm giác phiêu bồng khi vượt những đèo dốc quanh co, uốn khúc. Với chúng tôi, tới Tây Thiên là để tìm lại không gian nhuốm màu phật pháp, rất thiền tịnh và trong sáng.
“Tây Thiên tổ ấn khơi nguồn phật; Vĩnh Phúc thiền tông thắp sáng tâm”, đôi câu đối hai bên cổng tam quan như một lời khẳng định điều này...
Đọc mấy câu thơ và bước qua chiếc cổng, lòng người như được về cõi Phật. Trong lòng như tan biến đi bao ưu phiền, mệt mỏi cũng như những bụi trần còn vương vấn để hòa mình vào không gian, cảnh sắc yên bình. Và với những ai mê thiền, thích khám phá, nghiên cứu về thiền phái Trúc Lâm thì nơi đây đích thực là địa chỉ tuyệt vời.
Nhưng tất cả những việc đó hãy để sau, bởi ngay trước mắt bạn là cảnh sắc thiền viện nguy nga, thanh tịnh mà ai cũng muốn dạo bộ tham quan ngay một vòng.

THUÊ XE DU LỊCH
THUÊ XE 4 CHỖ
THUÊ XE 7 CHỖ
THUÊ XE 15 CHỖ
THUÊ XE 16 CHỖ
THUÊ XE 24 CHỖ
THUÊ XE 25 CHỖ
THUÊ XE 29 CHỖ
THUÊ XE 30 CHỖ
THUÊ XE 35 CHỖ
THUÊ XE 45 CHỖ
THUÊ XE 50 CHỖ

LỊCH KHỞI HÀNH TOUR TRONG NƯỚC - NỘI ĐỊA
BẢNG GIÁ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH TRONG NƯỚC - DU LỊCH NỘI ĐỊA

Tin liên quan:
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ khách hàng
 
 Tel: 3995 1033 - 3995 1021
 Hotline: 0919.221.009
 Fax: (84-8) 3995 1024
 Emal: huutoan@saigontoserco.com
 ADD: 86/6 Thích Quảng Đức,P5,Q.PN
 
thue xe du lich 4 cho
thue xe du lich 7 cho
thue xe du lich 16 cho
thue xe du lich 25 cho
thue xe du lich 30 cho
thue xe du lich 45 cho
Địa chỉ: 86/6 Thích Quảng Đức, P.5, Q.Phú Nhuận, Tp.HCM.
Tel: (84.8)3995 1033 - 3995 1021 - Fax: (84.8)3995 1024
Hotline: 0919.221.009
Emal: info@saigontoserco.com
Copyright © SaigonToserco.com. All rights reserved.