Tour du lịch | Event | Vé máy bay | Tàu hỏa | Xe du lịch | Khách sạn | Hướng dẫn viên | Visa | Liên hệ  
 
Trang chủ
Tin tức
Danh bạ nhà hàng
Địa danh
54 Dân tộc Việt Nam
63 Tỉnh thành
Ẩm thực
Lễ hội
Cần biết khi đi tour
Hình ảnh
xe du lich tet
xe du lich tet
xe du lich tet
ĐỊA DANH DU LỊCH QUẢNG NGÃI - ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH QUẢNG NGÃI

Quảng Ngãi có diện tích là 5.177km2 với dân số là 1.190.006 người, trong đó riêng người Việt chiếm trên 90%, phía tây giáp Quảng Nam, nam giáp Bình Định, tây giáp KonTum, đông giáp Biển Đông. Chiều dài tỉnh là 98km. 2/3 diện tích toàn tỉnh toàn là rừng, chia làm 2 miền rõ rệt: miền thượng du với rừng núi cao nối tiếp nhau, Hòn Thạch Bích mà tục gọi là đá Vách hay Tô Sơn cao 1.139m. Miền trung châu với 6 cánh rừng xanh tươi trải dọc theo chân núi phía tây và bờ biển phía đông. Bốn con sông chảy từ tây sang đông chia cách những cánh đồng ra từng khoảng rộng, bồi bổ phù sa. Đi từ bắc xuống nam ta lần lượt qua các con sông: Trà Bồng, Trà Khúc, Vệ và Trà Câu. Trong đó sông Trà Khúc là sông dài nhất.
Ngược dòng lịch sử Quảng Ngãi xưa kia từng là đất của Chiêm Thành, di tích của họ còn sót ở Châu Sa, thuộc huyện Sơn Tịnh và Cổ Lũy thuộc huyện Tư Nghĩa. Từ năm 607 — 1402, đất Quảng mang tên Cổ Lũy Đồn, rồi Cổ Lũy Châu. Năm 1402 Hồ Quý Ly sai quân đi đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm dâng đất Quang Động tức Quảng Nam bây giờ nhưng Hồ Quý Ly bắt dâng thêm Cổ Lũy, rồi chia làm 4 châu, Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đất Cổ Lũy của Chiêm Thành sát nhập vào của nước ta từ đó. Sau đó đất Cổ Lũy đổi tên thành Tư Nghĩa, đến đời cha Nguyễn Phúc Chu (xưng Vương năm 1674), mới đổi tên thành Quảng Nghĩa. Cuối thế kỷ XIX, Quảng Nghĩa mới đổi thành Quảng Ngãi. Quảng Ngãi có cảng Sa Kỳ, và trong tương lai Quảng Ngãi sẽ phát triển nhanh vì chính phủ đã cho xây xong nhà máy lọc dầu Dung Quất và đã đi vào sử dụng, một vịnh lớn sẽ che chắn bởi núi Cô Tô. Một thành phố mới khoảng 50.000 dân sẽ được hình thành. Quảng Ngãi có 12 thắng cảnh nổi tiếng: Long đầu hí thủy, Thiên ấn nam hải, Bút lãnh phê vân, Liên trì duc nguyệt, Vân sơn túc võ, Thạch bích từ dương, Cổ lũy cô thôn, Hà nhai văn độ, La hà thạch trận, An hải sa bàn, sông Trà, núi Ấn. Quảng Ngãi còn nổi tiếng với nền văn hóa Sa Huỳnh cũng như những chiến tích như Sơn Mỹ, Vạn Tường. Đặc sản là đường, cua Huỳnh Đế và các loại hải sản.
Về hành chính: Quảng Ngãi là một thị xã có cùng tên với các tỉnh và huyện: Trà Bồng, Sơn Hải, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Minh Long, Ba Tơ, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức và Đức Phổ. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới mùa nắng từ tháng 2 tới tháng 8, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 tới tháng 1 năm sau.
Về kinh tế: Quảng Ngãi có hai vùng kinh tế chủ yếu: vùng đồng bằng rộng 151.000 ha, vùng trồng lúa, mía, cây công nghiệp, rau, quả, sản xuất đường, rượu, chế biến gỗ, sành sứ… lúa là cây trồng chính trong cơ cấu cây nông nghiệp với diện tích trên 91.000 ha, sản lượng đạt 5 — 7 tấn/ha/ năm. Một ngành mũi nhọn của Quảng Ngãi là mía đường khoảng 9000 ha.
Về giao thông: có QL 1A xuyên suốt, QL 24 nối Quảng Ngãi với các tỉnh Tây Nguyên và thông thương với Lào, Campuchia và đông bắc Thái Lan, Quảng Ngãi có cảng Dung Quất nằm ở phía đông bắc tỉnh, cách QL1A và đường sắt xuyên Việt 20 km, cách thị xã Quảng Ngãi 38km, cách Đà Nẵng 95 km, cách sân bay Chu Lai khoảng 7 km và có đường hàng hải quốc tế 190 km. Cửa vịnh dài 4 km, rộng 2km. Vịnh cho phép tàu 50.000 tấn ra vào và tàu dầu 100.000 — 150.000 tấn ra vào an toàn kể cả lúc triều thấp. Bờ phía nam là vùng đất bằng phẳng có nền ổn định thích hợp để xây dựng kho bãi, tổ hợp công nghiệp.
Quảng Ngãi còn có đảo Lý Sơn cách đất liền 25 hải lý, diện tích gần 24km trong đó 500 ha có khả năng sản xuất đất nông nghiệp, còn lại là vùng núi đồi. Toàn huyện có 17.000 dân sinh sống, chủ yếu khai thác thủy sản, trồng tỏi, hành (500 — 600 tấn). Ở đây có chùa Hang xây trong lòng núi. Rõ ràng Quảng Ngãi còn có tiềm năng rất lớn.


--------------------------------------------------------------------------------

THÀNH CỔ QUÃNG NGÃI:
Còn gọi tên là Cẩm Thành (thành Gấm) nằm cách Quốc lộ 1A 200m về phía đông, nay thuộc phường Nguyễn Nghiêm - TX Quảng Ngãi (thành Quảng Ngãi trước kia nằm ở làng Phú Nhơn, huyện Bình Sơn - nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh). Thành được khởi công xây dựng năm 1807 ở Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa (trên địa bàn di tích hiện nay) và đến năm 1815 thì hoàn chỉnh.
Cổ thành Quảng Ngãi kiến trúc theo kiểu vô-băng (vauban) có hình bình đồ vuông, mỗi cạnh trên 500m, tổng diện tích trên 26 ha. Mặt tiền của cổ thành quay về hướng bắc, nhìn ra kinh đô Huế. Thành lấy sông Trà Khúc làm nhược thuỷ, lấy núi Thiên Ấn làm minh đ7ờng, hai bên hữu long, tả hổ là núi Ông (Quảng Phú) và núi Đá Đen (Phú Thọ), lấy ngọn Thiên Bút làm hậu chẩm. Thành nằm giữa một vùng thiên nhiên đẹp, tạo nên sự tổng hòa cảnh quan kiến trúc ngoạn mục.
Hiện nay cổ thành Quảng Ngãi chỉ còn lại dấu tích đoạn bờ thành phía đông và phía nam. Hào thành bị lấp cạn ba phía, trừ phía tây mới được kè xây lại bằng đá. Kiến trúc cũ không còn. Tuy vậy, nhờ dấu tích bờ thành, trục đường đông tây, ta vẫn dễ dàng nhận biết mặt bằng tổng thể của cổ thành Quảng Ngãi.


--------------------------------------------------------------------------------

CỒN RÀNG - KHU MỘ CHUM THUỘC VĂN HÓA SA HUỲNH:
Cồn Ràng là một trong những khu mộ lớn nhất của văn hoá Sa Huỳnh từ khoảng 2500 năm trước.
Năm 1987, thầy trò khoa lịch sử trường Đại học Khoa học Huế đã đến Cồn Ràng, thử khai quật một số điểm, phát hiện 3 chum kích thước lớn về các di vật gốm, hạt trang sức bằng mã não và thủy tinh. Tiếp đến là các cuộc khai quật của Viện khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng Tổng hợp của tỉnh Thừa Thiên Huế. Vừa qua, các cơ quan này đã tiến hành khai quật xong đợt 3, với tổng diện tích khai quật 2.300m², chia thành 14 hố với kích thước trung bình 150m²/hố. Kết quả cho thấy: Mộ táng phân bổ chủ yếu ở độ sâu 0,5m đến 1,5m. địa tầng di tích khá thuần nhất, các lớp chủ yếu là cát, cát pha sét, cát thơ mịn vì bị laterit do địa hình chịu ảnh hưởng của phù sa sông biển và những đợt xâm thực bào mịn trước núi.
Đến nay, các nhà khảo cổ đã khai quật được 217 ngôi mộ, chủ yếu là mộ chum phân bổ thành từng cụm thẳng hàng, tứ giác, tam giác, ngũ giác. Mộ chum Cồn Ràng có 4 dạng: Dạng hình trụ, hình trứng, hình cầu; giữa trụ và trứng được trang trí nhiều loại hoa văn, có chum trang trí văn đập xung quanh vai, có chum trang trí văn thừng tồn thân, đa số các chum để trơn phần thân và đáy. Nắp mộ chum có 3 loại: loại nón cụt, đáy bằng, hình cầu đáy lòng chảo và loại nón chóp đáy nhọn. Cách thức bày trí: trên nắp, quanh vai và thân mộ chum thường đặt đồ gốm như nồi bình niên, bát đèn; bên trong là đồ trang sức như khuyên tai hình bông hoa rau muống, hình đầu thú …
Nhìn chung, mộ chum Cồn Ràng được chôn không tuân theo một quy luật nào cả. Đa số các mộ chưa tìm thấy xương cốt, cả trong và ngoài mộ chỉ phát hiện thấy than củi... Tiến sĩ Bùi Văn Liêm, Trưởng đoàn khai quật cho biết: đây là cuộc khai quật một di tích khảo cổ lớn thứ hai trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam, chỉ sau di chỉ Lung Leng ở tỉnh Kon Tum. Qua nghiên cứu từ tư liệu lòng đất Cồn Ràng với khối lượng lớn hạt mã não làm đồ trang sức, đồ sắt làm công cụ sản xuất, đồ gốm làm đồ gia dụng..., có thể dự đoán Cồn Ràng là một trong những khu mộ lớn nhất của văn hóa Sa Huỳnh từ khoảng 2500 năm trước nghiên cứu cũng cho thấy cư dân Cồn Ràng vào thời kỳ này đã đạt được những thành tựu lớn trong đời sống kinh tế và vật chất, văn hoá tinh thần; thạo nghề nông, chăn nuôi và giỏi trong đánh bắt thuỷ hải sản; biết đến thẩm mỹ làm đẹp cho bản thân và cộng đồng.
Trong thời gian khai quật di tích Cồn Ràng, được sự giúp đỡ của bà con địa phương, đoàn khảo cổ còn phát hiện ra di tích mộ chum ở nhiều địa điểm khác thuộc vùng lân cận Cồn Ràng như: Cồn dài, Bàu Dưng, Cửa Thiền, Phú Ốc… Ngoài ra, Cồn Ràng cách xóm Tháp, thôn An Đô, xã hương Xuân, huyện Hương Trà khoảng 2500m về phía đông bắc có nhà thờ họ Chế có gia phả từ 14 đến 16 đời, và nơi đây còn có nhiều huyền thoại, huyền tích như miếu Bà Yàng, điện thờ bà Lôi,… là những tư liệu quý trong quá trình nghiên cứu giai đoạn tiền sơ sử ở tỉnh Thừa Thiên Huế và Cồn Ràng ở thôn các tỉnh ven biển miền trung nói chung. Tỉnh Thừa Thiên Huế tự hào có di sản văn hoá Thế giới là cố đô Huế, nay thực sự có thêm niềm tự hào nữa là khu mộ chum lớn thuộc văn hoá sa Huỳnh ở Cồn Ràng.



--------------------------------------------------------------------------------

SA HUỲNH QUẢNG NGÃI:
Sa Huỳnh nằm ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc huyện Đức Phổ, cách thị xã tỉnh lỵ 60 km. Sa Huỳnh là bãi biển đẹp, nổi tiếng là vựa muối quan trọng ở miền Trung. Bãi biển Sa Huỳnh nằm sát quốc lộ 1A, ở km 985, có ga xe lửa Sa Huỳnh, cho nên từ Hà Nội vào hay từ thành phố Hồ Chí Minh ra, du khách có thể dừng chân ghé lại đây rất thuận lợi. Địa danh Sa Huỳnh phải viết cho đúng là Sa Hoàng, có nghĩa là cát vàng. Thật vậy, màu cát ở đây không trắng như ở nơi khác mà lại có màu vàng óng ánh thật đẹp. Sở dĩ, phải viết thành Sa Huỳnh, vì chữ “ Hoàng” trùng tên Chúa Nguyễn Hoàng thời Nguyễn sơ. Bến cá Sa Huỳnh Bãi biển Sa Huỳnh chạy dài đến năm, sáu km, cong cong hình lưỡi liềm. Đáy biển thoai thoải, không có bãi đá ngầm, có thể là những bãi tắm lý tưởng đối với du khách đến đây nghỉ hè, vui chơi và tắm biển. Ngoài ra, Sa Huỳnh còn có thắng cảnh ghềnh đá Châu Me, Đảo Khỉ… thu hút du khách vào các ngày nghỉ cuối tuần và các ngày lễ tết. Để phục vụ khách du lịch, ngành du lịch Quảng Ngãi còn xây dựng tại đây khách sạn Motel Sa Huỳnh để đón khách đến nghỉ ngơi, an dưỡng. Từ lâu, Sa Huỳnh được biết đến như là di chỉ khảo cổ học với “Văn hóa Sa Huỳnh “. Đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học người Pháp như Vinet, Labare, Colani đã phát hiện ở Sa Huỳnh hàng loạt mộ chum và nhiều hiện vật tiêu biểu cho nền văn hóa cổ xưa bị chìm khuất dưới lòng đất qua thời gian dài lịch sử. Các kết quả khai quật được nghiên cứu và kết luận, dải đất từ Đèo Ngang cho đến Đồng Nai (Nam Bộ) lên cả Tây Nguyên, từ sơ kỳ đồng thau cho đến sơ kỳ sắt đá nơi hiện diện một nền văn hóa độc đáo của nhân loại và được định danh bằng khái niệm “Văn hóa Sa Huỳnh”'. Những gò Ma Vương, gò Điều Gà … là những nơi có nhiều dấu tích của nền văn hóa Chăm pa, từ lâu đã thu hút nhiều du khách đến tham quan và nghiên cứu. Sa Huỳnh đã đi vào lịch sử nước nhà, là nơi mà hơn 500 năm trước, đoàn quân nam chinh của vua Lê Thánh Tông dừng chân lại đây nghỉ ngơi và luyện tập, biên chế thành đội ngũ trước khi tiến đánh cửa Thị Nại và kinh thành Đồ Bàn. Sa Huỳnh trở thành hải tấn quan trọng thời nhà Nguyễn để canh phòng mặt biển. Đến khi người Pháp đến xâm lược đất nước ta, mở tuyến đường sắt bắc - nam, lại cho xây dựng ga xe lửa Sa Huỳnh để vận chuyển muối từ Sa Huỳnh đi các nơi khác. Sa Huỳnh qua bao lần biến đổi đã trở thành nơi nghỉ mát, du lịch hè lý tưởng. Sa Huỳnh có đủ các món ngon đặc sản biển nhưng hấp dẫn nhất là món mắm nhum và cua huỳnh đế. Người Sa Huỳnh có câu: “Giàu chất của kho, nghèo lo hủ mắm”. Con nhum (cầu gai) đã hiếm và chỉ bắt theo mùa. Còn mắm nhum thì hiếm hơn. Mắm nhum Sa Huỳnh nổi tiếng cả nước, thời nhân Nguyễn, vua Minh Mạng hạ lệnh hằng năm địa phương phải “tiến” về kinh đô 12 cân mắm. Mắm nhum thời đó trở thành “mắm tiến”. Sau mắm nhum là cua huỳnh đế. Đây là giống cua to con, cân nặng cả ký, toàn thân có màu đỏ gạch. Đã đặt chân đến Sa Huỳnh, du khách khó quên món cua luộc chấm muối. Mỗi người chỉ ăn vài con cũng đủ no nê. Khách có thể chọn vài xâu cua còn tươi rói mang về làm quà cho người thân. Sa Huỳnh còn là vựa muối lớn ở miền Trung, chẳng thua kém gì muối Cà Ná và muối Hòn Khói. Diện tích các cánh đồng muối ở đây chiếm gần 500 ha và hàng năm sản xuất hàng trăm ngàn tấn muối có chất lượng tốt. Muối Sa Huỳnh từ lâu có mặt khắp các thị trường miền Trung và Tây Nguyên, và dùng nhiều trong công nghiệp chế biến thực phẩm tiêu dùng. Từ làng chài nghèo nàn và hoang sơ, Sa Huỳnh ngày nay đã trở thành một thị tứ nho nhỏ, xinh xinh nằm ẩn mình dưới hàng dương rủ bóng thướt tha và rừng dừa thơ mộng, là nơi mà ai đã đến một lần thì thông thể quên, không những vì cuộc mưu sinh ở đây dễ dãi mà còn vì tình cảm con người ở đây mộc mạc và thiết tha: Ngó ra ngoài bãi cát vàng, Cát bao nhiêu hạt, thương chàng bấy nhiêu Ngay cả như nhà thơ Xuân Diệu, sinh thời đã có một lần đến Sa Huỳnh, như đã cảm nhận được vẻ đẹp của đất, trời, biển nước ở đây và đã thốt lên: Hỏi mình biển đẹp vô ngần, Sóng xanh như đến dừng chân Sa Huỳnh.


--------------------------------------------------------------------------------

HUYỆN ĐỨC PHỔ QUẢNG NGÃI:
Đức Phổ là một huyện nằm về phía đông nam tỉnh Quảng Ngãi, có diện tích khoảng 386 ha và dân số là 150.166 người. Huyện có 14 xã và 1 thị trấn. Địa hình của huyện khá phức tạp do dãy Trường Sơn đâm ra sát biển. Phía bắc giáp huyện Mộ Đức, nam giáp huyện Tam Quan (Bình Định), tây giáp huyện Ba Tơ và phía đông giáp biển Đông.
Đức Phổ có nhiều cụm công nghiệp, làng nghề, như làng muối Sa Huỳnh (đặc sản Quảng Ngãi) và khu công nghiệp Phổ Phong đang kêu gọi đầu tư. Trị trấn Đức Phổ đang được xây dựng theo quy hoạch của Bộ xây dựng Việt Nam, để tiến tới trở thành thị xã vào năm 2010, tạo thành chuỗi thị tứ, thị trấn dọc theo QL1A cùng với Vạn Tường — Dung Quất (phía bắc) và thành phố Quảng Ngãi (trung tâm tỉnh).
Về đường bộ huyện có QL1A, cùng với tuyến đường ven biển Dung Quất — Sa Huỳnh đã được quyết định xây dựng bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ Việt Nam. Về đường biển, huyện có cảng Sa Huỳnh. Đường sắt Thống Nhất cũng chạy qua huyện.
Huyện Đức Phổ là nơi chiến đấu của bác sỹ, liệt sỹ Đặng Thùy Trâm. Huyện có thắng cảnh đẹp như bãi biển Sa Huỳnh. Đây cũng là nơi các dấu tích (như mộ chum, đồ tùy táng, gò Ma Vương) của nền văn hóa Sa Huỳnh cách đây khoảng 2000 — 3000 năm được tìm thấy. Phía đông nam Sa huỳnh có đảo Khỉ với đàn Khỉ gần 500 con. Ở Sa Huỳnh cũng có bia đá khắc chữ Phạn (làng Thạch Bi). Nơi đây đang được tỉnh Quảng Ngãi quy hoạch chi tiết và xây dựng thành khu du lịch Sa Hùynh.


--------------------------------------------------------------------------------

DI TÍCH BA TƠ QUẢNG NGÃI:
Di tích thuộc xã Ba Đông, huyện Ba Tơ, cách thị xã Quảng Ngãi 60km về hướng tây nam. Là di tích lịch sử cách mạng Việt Nam trong những năm 1942 -1945. nơi đây có 9 điểm di tích để lại dấu ấn của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và chính quyền cách mạng đầu tiên được thành lập tại tỉnh Quảng Ngãi.
Di tích Ba Tơ đựơc tỉnh đầu tư để xây dựng thành các làng dân tộc kiểu mẫu.




--------------------------------------------------------------------------------

HUYỆN MỘ ĐỨC QUẢNG NGÃI:
Mộ Đức là một huyện nằm phía đông nam tỉnh Quảng Ngãi. Phía bắc giáp huyện Tư Nghĩa, phía nam giáp huyện Đức Phổ (nơi làm việc và chiến đấu của bác sỹ, liệt sỹ Đặng Thuỳ Trâm), phía tây giáp huyện Nghĩa Hành, phía đông giáp biển Đông, với tổng chiều dài bờ biển là 23km. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 212 ha. Dân số là 144.230 người tạo nên mật độ tương đối đông. Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính nhỏ hơn, gồm 11 xã và 2 thị trấn (Mộ Đức và Đồng Cát). Chúng được chia thành 69 thôn và tổ dân phố. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ của huyện có biên độ dao động thấp, quanh giá trị trung bình hàng năm khoảng 27 độ C. thời tiết luôn biến đổi bất thường, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.
Với đặc điểm là một huyện thuần nông, hơn 80% dân số sinh sống ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, tiến trình phát triển kinh tế xã hội của huyện ở điểm xuất phát thấp; trong khi đó tiềm năng đất đai, lao động của huyện chưa được khai thác có hiệu quả. Huyện có bãi biển Minh Tân, cách khu lưu niệm Phạm Văn Đồng 5km về phía đông.


--------------------------------------------------------------------------------

HUYỆN TƯ NGHĨA QUẢNG NGÃI:
Huyện Tư Nghĩa là một huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi. Với diện tích khoảng 227 ha và dân số của huyện là 178.132 người. Huyện dường như nằm bao quanh thành phố Quảng Ngãi, giáp các huyện Sơn Tịnh, Sơn Hà, Minh Long, Nghĩa Hành, Mộ Đức, và biển đông. Huyện được chia làm 18 xã và 2 thị trấn (La Hà và Sông Vệ). Kinh tế của huyện là thuần nông công với đánh bắt hải sản và tiểu thủ công nghiệp. Huyện đang phát triển cụm công nghiệp làng nghề La Hà.
Huyện có núi Phú Thọ và Cổ Lũy cô thôn với các thành lũy văn hóa Chămpa (thành Bàn Cờ, thành hòn Yàng) và làng quê ven biển bình yên với những rặng dừa giỡn sóng. Thắng cảnh núi Phú Thọ và Cổ Lũy cô thôn đã được Bộ văn hóa thông tin Việt Nam xếp hạng. La Hà Thạch Trận với những phiến đá trên ngọ đồi khi có gió thổi thoát ra những tiếng ngoạn mục như những cuộc giao chiến. Huyện có chùa Ông được người Hoa tại Quảng Ngãi xây dựng vào thế kỷ 18 nằm trên địa bàn thị tứ Tư Xà, xã Nghĩa Hoài (phố cổ Thu Xà đã bị Mỹ tàn phá năm 1974). Chùa vẫn được bảo tồn và hiện nay là di tích quốc gia. Đặc sản của huyện và của tỉnh Quảng Ngãi là don, được các ngư dân ven sông Trà Khúc đánh bắt. Công trình đại thủy lợi Thạch Nham tại đây cũng là điểm du lich tại Quảng Ngãi. Khu du lịch suối nước nóng Nghĩa Thuận đang được đầu tư xây dựng với sự hỗ trợ của tổng cục du lịch Việt Nam.


--------------------------------------------------------------------------------

THÀNH PHỐ QUÃNG NGÃI:
Thành phố Quảng Ngãi là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 26/8/2005 thị xã Quảng Ngãi được nâng cấp lên thành phố trực thuộc tỉnh bằng quyết định số 112/2005/ NĐ — CP của chính phủ Việt Nam.
Thành phố Quảng Ngãi được bao quanh huyện Tư Nghĩa và huyện Sơn Tịnh với diện tích tự nhiên là 3712 ha, dân số khoảng 134.000 người. Thành phố có 10 đơn vị hành chính. Có khu công nghiệp Quang Phú ra đời các sản phẩm như bia Dung Quất, nước khoáng Thạch Bích, sữa đậu nành Famivinasoy, bánh kẹo Quảng Ngãi Biscafun.
Giao thông có QL1A chạy qua thành phố Quảng Ngãi, sắp tới sẽ khởi công xây dựng tuyến đường Dung Quất — Sa Huỳnh, cao tốc Đà Nẵng — Quảng Ngãi. Ga Quảng Ngãi nằm ở cuối đường Nguyễn Chánh, tàu Thống Nhất dừng ở đây, có bến xe liên huyện (phố Nguyễn Nghiêm) và bến xe liên tỉnh (đường Lê Thánh Tông). Cảng Sa Kỳ cách 12km và cảng Dung Quất 15 km về phía nam. Sân bay Chu Lai cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 35km về phía bắc. Thủy lợi Thạch Nham cung cấp nước tưới tiêu cho thành phố, nhà máy nước công suất 20.000m/ ngày đêm.
Bưu điện tỉnh nằm ở đường Phan Đình Phùng, bưu điện thành phố nằm ở đường Quang Trung. Bệnh viện đa khoa tỉnh nằm ngay đại lộ Hùng Vương và có 14 bệnh viện huyện. Hiện nay thành phố có 1 khách sạn 4 sao (central hotel), 2 khách sạn 3 sao (Mỹ Trà hotel và Petro Sông Trà hotel), và hơn 20 khách sạn đạt chuẩn khác. Chợ Quảng Ngãi nằm ở đường Nguyễn Nghiêm, siêu thị nằm ở đại lộ Hùng Vương, siêu thị điện máy Hòa Bình nằm ở đường Quang Trung.
Có vườn hoa Ba Tơ, bảo tàng tổng hợp tỉnh nơi trưng bày các di vật tìm thấy của văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chămpa, văn hóa các dân tộc tỉnh nhà, quảng trường tỉnh (đường Thành cổ núi bút hoặc đường Phạm Văn Đồng), núi Bút, phố Bờ Kê, bến Tam Thương … thành phố là nơi lưu trú khá lý tưởng cho du khách khi về thăm Quảng Ngãi. Lúc sinh thời cố thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi có lần đề nghị thủ tướng Phạm Văn Đồng được cho Ấn Độ xây dựng thành phố thị xã Quảng Ngãi thành thành phố Phạm Văn Đồng nhưng thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khiêm tốn từ chối. Thành phố Quảng Ngãi đang cố gắng trở thành đô thị loại 2 vào năm 2010.


--------------------------------------------------------------------------------

HUYỆN BÌNH SƠN QUẢNG NGÃI:
Bình Sơn là một huyện nằm ở phía đông bắc tỉnh Quảng Ngãi. Với tổng diện tích tự nhiên là 463 ha, dân số là 177,934 người. Địa hình khá phức tạp, nằm ở ven biển, có cả vùng đồng bằng và miền núi. Phía bắc giáp huyện Núi Thành (Quảng Nam), phía nam giáp huyện Sơn Tịnh, phía tây giáp huyện Trà Bồng và phía đông giáp biển Đông. Huyện có 24 xã, trong đó huyện lỵ là thị trấn Châu Ô. Huyện đảo Lý Sơn được tách ra từ huyện này.
Kinh tế của huyện chủ yếu là thuần nông. Tuy nhiên, qua khảo sát các vịnh tại Việt Nam của đoàn công tác Chính Phủ Việt Nam năm 1992 thì vịnh Dung Quất cùng vịnh Chân Mây (Thừa Thiên Huế) có ưu thế hơn trong việc xây dựng cảng nước sâu, khả năng tiếp nhận tàu được 100.000 tấn. Năm 1994, nguyên thủ tướng Chính Phủ Võ Văn Kiệt ký quyết định xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam tại vịnh Việt Thanh nằm tại xã Bính Trị, huyện Bình Sơn. Sau gần 10 năm xây dựng, năm 2003, phía Việt Nam đã bàn với các đối tác Nga để Việt Nam tự đầu tư (do cơ chế liên doanh 50:50 trước đây làm chậm trễ tiến độ xây dựng công trình). Năm 2005, Việt Nam cho đối tác Technip (Pháp) cùng các nhà thầu phụ (Nhật Bản, Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha) để xây dựng nhà máy.
Đã có hơn 100 dự án đầu tư vào khu kinh tế Dung Quất với tổng số vốn xấp xỉ 5,1 tỷ USD trong đó có 2 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài có số vốn lớn: nhà máy luyện thép lò cao của Đài Loan (1,5 tỷ USD) và một dự án đầu tư của nhà đầu tư Hàn Quốc (200 triệu USD) từ vị trí là tỉnh thu hút đầu tư nước ngoài xếp thứ 37 của cả nước, Quảng Ngãi đã vươn lên thành tỉnh có vốn đầu tư FDI xếp thứ 11 cả nước và trở thành 1 trong 5 tỉnh thu hút FDI cao nhất cả nước năm 2006. Bình Sơn hiện đang xây dựng khu đô thị mới Vạn Tường với đầy đủ các tiện ích như; bưu điện, trường dạy nghề, bệnh viện quốc tế, khu chuyên gia, khu du lịch sinh thái Thiên Đàn (hay còn gọi là khu du lịch sinh thái 4 mùa). Đối với ngành công nghiệp tại đây, tỉnh xây dựng hệ thống giao thông, điện nước đến từng hàng rào nhà máy với chính sách ưu đãi.
Huyện có nhiều bãi tắm đẹp như: Khe Hai; Lệ Thủy biển bậc thang). Huyện có di tích cấp quốc gia về vụ thảm sát Bình Hòa (do lính Hàn Quốc gây năm 1966, làm 430 người dân bị thiệt mạng). Tại xã Bình Hải huyện Vạn Tường hiện có nhà bảo tàng chiến thắng Vạn Tường (chiến thắng chiến lược chiến tranh cục bộ, cuộc hành quân “Ánh sáng sao”, của quân đội Hoa Kỳ ngày 18/8/1965).


--------------------------------------------------------------------------------

THÀNH CỔ CHÂU SA QUẢNG NGÃI:
Một thành Chăm cổ còn khá nguyên vẹn, được dựng vào thế kỷ X, cao 5m, hình vuông, có hai vòng thành trong và ngoài, mỗi cạnh dài 800m. Thành Châu Sa thuộc Thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, các Thị xã Quảng Ngãi 6 km về phía đông, trên bờ biển Bắc gần cửa biển sông Trà. Nơi đây đã có một thời nổi tiếng với những nghề: làm lúa, làm gốm, trao đổi, buôn bán với của cư dân Chămpa thế kỷ 9-14. Thành cổ Châu Sa còn có di tích Cổ Lũy nằm ở thắng cảnh núi Phú Thọ-Cổ Lũy Cô Thôn. Thành xây nhô ra biển án ngữ Cửa Đại bảo vệ Thành Châu Sa.


--------------------------------------------------------------------------------

NÚI THIÊN ẤN QUẢNG NGÃI:
Thiên Ấn có tục danh là núi Hó, từ xưa đã được xem là "đệ nhất phong cảnh" của tỉnh Quảng Ngãi với mỹ danh "Thiên Ấn niêm hà", tức ấn trời đóng trên sông. Sông ở đây là sông Trà Khúc, con sông lớn nhất tỉnh. Cùng với sông Trà, núi Thiên Ấn từ lâu đã trở thành biểu tượng của vùng đất Quảng Ngãi.
Thực ra, núi Thiên Ấn chỉ là một quả đồi cao trên trăm mét, nằm ở thị trấn Sơn Tịnh, bên bờ bắc sông Trà Khúc, có quốc lộ 24B áp sát chân núi, cách quốc lộ 1A khoảng 3km về phía tây. Do vậy, khách theo quốc lộ 1A vào Nam hay ra Bắc đều có thể thấy rõ núi Thiên Ấn. Muốn ghé thăm Thiên Ấn, từ ngã ba đầu cầu Trà Khúc trên quốc lộ 1A, rẽ sang quốc lộ 24B về hướng đông chạy xe ô tô chỉ khoảng năm mười phút là đến chân núi. Đường lên đỉnh Thiên Ấn xoắn ốc theo chiều kim đồng hồ, độ dốc không cao, lòng đường rộng, đã trải nhựa nên xe các loại đều lên xuống dễ dàng.
Sở dĩ núi có tên là Thiên Ấn vì đỉnh núi rộng, bằng phẳng, nhìn xa giống như một cái triện lớn do trời sinh ra. Sườn núi Thiên Ấn có nhiều cỏ tranh, phía đông sườn núi có chùa Thiên Ấn nằm giữa lùm cây cổ thụ rậm rạp. Ngôi chùa cổ này được xây dựng từ cuối thế kỷ XVII, đã được chúa Nguyễn ban cho biển ngạch "Sắc tứ Thiên Ấn tự", năm 1717. Trong khuôn viên chùa có cái cái giếng cổ sâu hun hút tương truyền được đào quét nhiều năm liền, tục gọi Giếng Phật. Chùa còn có quả chuông lớn thỉnh về từ làng đúc đồng Chú Tượng năm 1845, dưới triều vua Thiệu Trị, tục gọi là Chuông Thần. Giếng Phật, Chuông Thần đều đã đi vào thơ ca và gắn với những huyền thoại lý thú, đi vào thơ ca vịnh cảnh Thủ khoa Phạm Trinh từng có câu: "Giếng Phật mạch sâu mùi nước ngọt/ Chuông Thần đêm vắng giọng đưa thanh".
Phía đông chùa có khu "viên mộ" thiết diện hình lục giác, gồm nhiều tầng, là nơi an táng các vị sư trụ trì chùa. Ngoài ra, tại đỉnh Thiên Ấn, trên trảng đất bằng phẳng thoáng đãng phía tây còn có phần mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng, là nơi được nhiều du khách viếng thăm.
Từ đỉnh Thiên Ấn du khách có thể ngắm nhìn cả một khoảng không gian bao la, hùng vĩ xung quanh. Nhìn lên: trời tây là rặng Thạch Bích như một bức thành sừng sững. Nhìn xuống hướng đông có thể thấy cửa Đại Cổ Lũy, nơi có cảnh đẹp nổi tiếng "Cổ Lũy cô thôn", với mặt biển lấp lánh. Nhìn về hướng bắc, tây bắc sẽ thấy nổi lên giữa đồng lúa xanh tươi dãy núi Long Đầu với mình rồng uốn lượn. Nhìn về hướng nam núi Thiên Bút với cái mỹ danh "Thiên Bút phê vân (Bút trời vẽ mây) hiện lên giữa phố phường tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Gần hơn là cầu Trà Khúc, sông Trà Khúc, nổi lên giữa những dải cát trắng, từng là nguồn cảm hứng cho hai bài thơ hay nhất của thi sĩ Cao Bá Quát: Trà Giang dạ bạc và Trà Giang thu nguyệt ca. Quả Thiên Ân không hổ danh là "đệ nhất thắng cảnh" của tỉnh Quảng Ngãi, là di tích quốc gia đã được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận từ năm 1990.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA CỔ THIÊN ẤN QUẢNG NGÃI:
Cổng Tam Quan.
Nói đến Hà Nội, không thể không nói đến Khuê Văn các, chùa Trấn Quốc, hồ Gươm, hồ Tây. Nói đến xứ Huế ta không thể bỏ qua sông Hương núi Ngự, các thành quách lăng tẩm. Nói đến Quảng Nam lại không thể quên di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An…
Còn nói đến Quảng Ngãi là nhắc đến núi Ấn — sông Trà, Ba Tơ, Ba Gia, Vạn Tượng…Đặc biệt, núi Thiên Ấn - sông Trà từ lâu được xem là biểu tượng của Quảng Ngãi và có sức thu hút mạnh mẽ đối với khách phương xa đến tìm xem và thưởng ngoạn.
Chùa Thiên Ấn nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, cách TP Quảng Ngãi 3,5km về hướng đông, thuộc thị trấn Sơn Tịnh, thường được người xưa xem là “đệ nhất thắng cảnh” của tỉnh Quảng Ngãi.
Chùa Thiên Ấn được khởi công xây dựng vào năm 1694 và hoàn thành vào cuối năm 1695 (năm Chính Hòa thứ 15, đời chúa Nguyễn Phúc Chu ở Đàng Trong). Tổ khai sinh chùa là thiền sư Pháp Hóa (1670 — 1754), tục danh Lê Diệt, hiệu Minh Hải Phật Bảo, gốc người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, thuộc dòng thiền Lâm Tế.
Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am tĩnh mịch, sau đó được dần trùng tu mở rộng thu hút được nhiều tăng ni phật tử và trở nên nổi tiếng.
Năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1717, đời vua Lê Dụ Tông), chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban cho nhà chùa biển ngạch Sắc Tứ Thiên Ấn Tự. Tấm biển này sau đó bị hư hại và được thiền sư Hoàng Phúc tái tạo vào năm 1946. Từ khi khai lập đến nay, chùa đã có 15 đời sư trụ trì, trong đó có 6 vị được suy tôn là sư tổ, gọi chung là lục tổ.
Chùa cũng đã trải qua 5 lần trùng tu, vào các năm 1717, 1827, 1910, 1918, 1959. So với các ngôi chùa cổ trong Nam ngoài Bắc, kể cả chùa Ông Thu Xà, chùa Thiên Ấn không nổi bật lắm về kiến trúc nội thất, trừ nhà phương trượng được xây dựng theo kiến trúc nhà rường, vốn là bộ khung mua lại của đình làng Phú Nhơn. Bù lại, chùa được xây dựng ở một vị trí có một không hai, đó là đỉnh đồi Thiên Ấn — một thế đất thiêng trong tâm tưởng của người dân Quảng Ngãi.
Không những đông đảo tăng ni phật tử tôn xưng ngôi vị tổ đình, mà đối với người dân, ngôi chùa này có một sự gắn bó bền chặt trong tâm linh, tình cảm, thể hiện qua các giai thoại như giếng Phật, chuông Thần và nhiều câu ca dao sâu nặng nghĩa tình được truyền miệng từ đời này qua đời khác.

GIẾNG PHẬT:

Tại chùa Thiên Ấn có khu viên mộ, nơi an táng của các vị sư tổ và các thiền sư trụ trì, nằm tiếp phía đông Thiên Ấn tự, với những ngôi bửu tháp được xây dựng nhiều tầng theo số lẻ (3,5,7,9) và tượng hình hoa sen. Chính những khu viên mộ này là nơi gìn giữ bảo thân của 6 vị thiền sư nổi tiếng đã có công mở rộng, gìn giữ ngôi chùa cũng như mang giáo lý từ bi, hỷ xả các Đức Phật đến với đông đảo tín đồ trong tỉnh.
Cách ngôi chùa không xa, chếch về hướng tây nam là mộ nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng với tấm bia mộ màu trắng, cao thanh thoát, có thể nhìn thấy từ phía xa xa. Kết hợp hài hòa kiến trúc hiện đại và truyền thống lăng mộ Đông phương, ngôi mộ vừa có đường nét đơn giản, vừa có được sự trang trọng nghiêm kính, gắn bó hữu cơ với tổng thể cảnh quan Thiên Ấn.
Trong những dịp lễ lớn, số người đến viếng Thiên Ấn và mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng lên đến hàng vạn, trong đó có không ít người phương xa về. họ có thể là tín đồ phật giáo về đây lễ Phật và cầu nguyện, cũng có thể là người không theo đạo nhưng yêu mến cảnh chùa muốn đến đây để chiêm ngưỡng một thắng cảnh hàng đầu của tỉnh Quảng Ngãi, dành một khoảng thời gian để lòng mình tĩnh lặng, để tẩy rửa tâm hồn, suy ngẫm nhiều điều về cuộc đời và vũ trụ.

CHUYỆN "GIẾNG PHẬT" Ở CHÙA THIÊN ẤN:

Chùa toạ lạc trên núi Thiên Ấn, thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Chùa do thiền sư Pháp Hoá dựng vào năm 1694.
Gắn với chùa có sự tích quả đại hồng chung linh thiêng đúc vào năm 1845 bởi các nghệ nhân của làng đúc đồng Chú Tượng (huyện Mộ Đức). Khi mới đúc ra, chuông đánh không kêu, thiền sư Bảo Ân đã chú nguyện và sau đó đánh tiếng chuông ngân nga khắp vùng. Chùa được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biểu ngạch "Sắc tứ Thiên Ấn Tự" năm 1716.
Chùa Thiên Ân có "giếng Phật" sâu 21 mét, nước mát trong, đào từ lúc khai sơn, phá thạch. Câu chuyện về nhà sư đào giếng và lễ khai chuông của thiền sư Bảo Ân đã lưu truyền rộng rãi trong dân gian, được ghi lại trong các thư tịch cổ, nhà Phật xem là những Phật thoại.
Tương truyền rằng, giếng Phật phải đào mất 20 năm mới hoàn thành, đây cũng là giếng nước đầu tiên của vùng núi Thiên Ấn. Sau nhiều năm vỡ núi tìm nguồn nước, vị sư trụ trì đã đụng đến viên đá tảng chắn ngang nguồn nước, tưởng đã vô vọng.
Đêm về, sư được báo mộng, nạy hòn đá lên sẽ có được nguồn nước thiêng. Khi nguồn nước phụt lên từ đáy giếng, vị sư cũng "hoá" theo dòng nước.
Về sau, người dân núi Ấn có thơ rằng: "Ông thầy đào giếng trên non, đến khi có nước không còn tăm hơi". Giếng xưa vẫn còn nguyên vẹn, nước vẫn xanh trong, thành giếng phủ đầy rêu phong, du khách có thể quay nước từ giếng Phật lên, uống một ngụm mát lành, khoả nước giếng khơi để gột rửa bớt bụi trần.
Giã từ bảo tháp, chuông thần, giếng Phật… trong tiếng chuông chùa tịch liêu của buổi chiều tà, du khách tản bộ theo con dốc nhỏ giữa rừng dương thắp một nén hương nơi mộ phần của cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947).
Chí sĩ họ Huỳnh người huyện Tiên Phước (tỉnh Quảng Nam), là nhà yêu nước, người lập ra báo Tiếng Dân, tham gia Chính phủ cách mạng năm 1945, được cụ Hồ cử làm đại diện Chính phủ ở Liên khu V, mất tại Quảng Ngãi ngày 21.4.1947, được an táng trên đỉnh núi này.


--------------------------------------------------------------------------------

KHU CHỨNG TÍCH MỸ SƠN QUẢNG NGÃI:
Từ thị xã Quảng Ngãi theo quốc lộ 1 qua khỏi cầu Trà Khúc gặp ngã ba thấy có biển đề “Khu chứng tích Sơn Mỹ”, quẹo phải vào 12 km là đến bảo tàng Sơn Mỹ. Trước khi sắp đến bảo tàng Sơn Mỹ, bên trái là một bệnh viện do cựu chiến binh Mỹ xây dựng.
Khu chứng tích Sơn Mỹ (hay Khu chứng tích Mỹ Lai), nằm tại thôn Tư Cung, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, là nơi tưởng nhớ vụ thảm sát Sơn Mỹ (còn được biết đến là vụ thảm sát Mỹ Lai), thực hiện bởi một lực lượng của quân đội Hoa Kỳ vào buổi sáng ngày 16 tháng 3 năm 1968, trong chiến tranh Việt Nam.
Ngày nay, du khách có thể trực tiếp nhìn thấy những bức ảnh ghi lại tội ác chiến tranh được trưng bày tại nhà chứng tích Sơn Mỹ hoặc tại Bảo tàng chứng tích chiến tranh Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo tàng Cách Mạng Việt Nam (Hà Nội).
Vụ thảm xảy ra tại thôn Tư Cung hay còn gọi là làng Hồng (Pink village). Người Mỹ gọi là Mỹ Lai 4. Lúc 7 giờ sáng ngày 16/3/1968, lính Mỹ ồ ạt đổ bộ xuống ấp Mỹ Lai 4. Vụ thảm sát chủ yếu xảy ra tại cái chấm nhỏ trên bản đồ, tức xóm Thuận Yên, thôn Tư Cung. Kẻ trực tiếp nhúng tay vào chính là lực lượng đặc nhiệm Barker. Lực lượng này gồm ba đại đội: Đại đội Alpha (kí hiệu là A) thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 1; Đại đội Bravo (kí hiệu là B) thuộc tiểu đoàn 4, trung đoàn 3; Đại đội Charlie (kí hiệu là C) thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 20 thuộc Americal và một đơn vị pháo binh. Tất cả đều thuộc lữ đoàn 11. Trong đó đại đội Charlie là đại đội chủ công của vụ tàn sát đẫm máu ở Sơn Mỹ mà những người thực hiện là trung đội 1. Chỉ huy trưởng đại đội Charlie là đại úy Ernest Medina, sinh năm 1936 tại bang New Mexico. Một nhóm quân nhân Mỹ (đại đội Charlie thuộc lữ đoàn bộ binh 11) dưới sự chỉ huy của người thiếu úy 24 tuổi William Calley nhận nhiệm vụ chiếm đóng làng Sơn Mỹ và tìm du kích Việt Cộng.
Sáng ngày 16/3/1968, như thường lệ người dân Sơn Mỹ dậy sớm lo cơm nước cho một ngày lao động mới. Khoảnh khắc bình yên bỗng chốc bị phá vỡ, 5 giờ 30 sáng, các tràng pháo đủ cỡ từ núi Răm, Bình Liên (huyện Bình Sơn), chỉ khu Sơn Tịnh và tiểu khu Quảng Ngãi nhất loạt dội vào 4 thôn của xã Sơn Mỹ. Đợt pháo kéo dài chừng 30 phút vừa dứt thì hai chiếc trực thăng HU.1A bay đến và đảo nhiều vòng nhả đạn rocket và đại liên vào các tụ điểm dân cư của hai thôn Tư Cung và Cổ Lũy. Kế đó là một đội trực thăng xuất hiện gồm 9 chiếc từ hướng Chu Lai (ở hướng Bắc) bay vào, đổ quân xuống vạt ruộng phía Tây thôn Tư Cung. Một tốp trực thăng khác gồm 11 chiếc đổ quân xuống bãi đất trống gần xóm Gò, thôn Cổ Lũy. Mục đích của họ là tìm diệt Sư đoàn 48 quân Cách Mạng.
Khu vực Tư Cung là vùng đất nhỏ 2,3 ha. Khu vực này nằm sát đồi 35 là nơi quân đội Mỹ chiếm đóng gọi là đồi Đồng Hoang. Đối diện với tượng đài là núi Đầu Voi có quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ.
Binh lính dồn dân chúng, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già, rồi tiến hành xả súng giết hại họ, cùng với việc đốt cháy nhà cửa và tiêu diệt vật nuôi như trâu.
Các binh lính đã hãm hiếp phụ nữ và bắn chết gần như tất cả dân cư của làng: 504 thường dân, trong đó là 182 phụ nữ, 172 trẻ em, 89 đàn ông dưới 60 tuổi và 60 người già. Gần như không một quân nhân nào chống lại mệnh lệnh giết người. Chỉ có phi công trực thăng Hugh Thompson, bằng cách đe dọa sẽ bắn họ bằng súng máy của chiếc trực thăng, đã bắt buộc các quân nhân tha cho 11 người phụ nữ và trẻ em, những người được ông di tản đi. Đội lái máy bay trực thăng đã được tặng thưởng Huy chương Quân nhân (Soldier’s Medal) 30 năm sau đó cho hành động can thiệp này.
Ngay sau vụ việc các sĩ quan chỉ huy đã tìm cách che đậy thảm sát này. Theo trình bày chính thức, tròn 20 thường dân đã chết không do cố ý trong lúc chiến đấu chống lại Việt Cộng. Chỉ đến ngày 5 tháng 12 năm 1969 mới xuất hiện một bài báo tường trình đầy đủ về vụ thảm sát trên tạp chí Life. Kế tiếp theo đó tạp chí Newsweek và Time cũng tường thuật về vụ việc này. Cả thế giới đã bị sốc. Chỉ có 4 quân nhân bị đưa ra tòa án quân sự. Người sĩ quan chỉ huy Calley bị tòa tuyên xử lao động bắt buộc chung thân nhưng được tổng thống Mỹ Richard Nixon ân xá thành 3 năm quản thúc tại gia.
Nhà báo Seymour Hersh, người phát hiện ra tình huống bi kịch này đã nhận giải thưởng Pulitzer về tường thuật quốc tế năm 1970. Tường thuật của ông được minh họa bằng hình của nhà nhiếp ảnh Ron Haeberle. Người nhiếp ảnh này đã tham dự vào chiến dịch dưới tư cách là phóng viên quân đội chính thức nhằm cung cấp chứng cứ cho cái được gọi là "đếm xác" (body count) của thống kê quân sự. Các xác chết được chụp đã được các sĩ quan nhận dạng là những người Việt Cộng đã hy sinh. Thế nhưng người ta không gặp một người Việt Cộng nào trong làng và cũng không gặp kháng cự nào. Mặc dầu vậy quân đội Mỹ rất hài lòng với cuộc hành quân, không có quân nhân Mỹ nào chết hay bị thương và 128 người chết của phía bên kia. Phải mất 1 năm Hersh mới tìm được một nhà xuất bản sẵn sàng công bố câu chuyện và hình ảnh của ông.
Việc xuất bản này đã đánh dấu một bước ngoặt trong cảm nghĩ của công chúng về chiến tranh Việt Nam, cả ở Mỹ lẫn trong toàn bộ thế giới phương Tây và đã góp phần quyết định vào việc tổng động viên của phong trào chống chiến tranh.
Ngày nay, tại nơi đấy là một trung tâm tư liệu, khu chứng tích Sơn Mỹ, trong đó vụ việc được trình bày một cách trung lập. Bên cạnh làng ngày xưa là 2 tòa nhà: 1 trường học và 1 trung tâm văn hóa, được xây dựng và tài trợ bởi cựu quân nhân của chiến tranh Việt Nam.
Tượng đài được xây dựng năm 1992, do Châu Đình Du vẽ kiểu, Hồ Thu điêu khắc. Anh là chồng chị Võ Thị Liên, một trong những người còn sống sót trong vụ thảm sát ở Sơn Mỹ. Thông qua tác phẩm điêu khắc này, Hồ Thu muốn nói lên hai ý nghĩa lớn:
- Hình ảnh người dân Sơn Mỹ bị tàn sát ngày 16/3/1968, diễn tả sự chết chóc chồng chất: con gái ôm xác cha, mẹ ôm xác con, anh ôm xác em…. Họ là những người già, phụ nữ, trẻ con, không vũ khí, không phản kháng.
- Dù cận kề cái chết họ vẫn muốn bảo vệ cho nhau và trên từng khuôn mặt lộ ra một nét phẩn uất vô hạn.
- Bên phải tượng đài người ta xây dựng 11 bia đá nằm rải rác trong khuôn viên rộng 2,3 ha. 11 bia đá này xây dựng trên nền 11 ngôi nhà cũ của 11 gia đình bị thảm sát mà nay họ hầu như không còn thân nhân nào. Tượng trưng cho 274 ngôi nhà cháy, 24 ngôi nhà bị triệt tôn, triệt tự. Trên những tấm bia này, người ta ghi tên tuổi những người đã chết trong nhà. Trong khuôn viên còn có hai hầm tránh pháo được phục chế năm 1993 nhưng hoàn toàn không giống hầm của người dân trước kia vốn chỉ là những hầm chữ A dã chiến để tránh mảnh bom. Nơi đây ta thấy một con rạch nhỏ, nơi lính Mỹ đã dồn dân xuống và bắn chết hàng loạt.
Năm 1978, khu chứng tích Sơn Mỹ được xây dựng để ghi nhớ tội ác chiến tranh này. Tại đây người ta trưng bày một số hình ảnh và hiện vật liên quan đến vụ thảm sát Sơn Mỹ ngày 16/3/1968.
• Khu chứng tích Sơn Mỹ: được Bộ văn hóa thông tin Việt Nam công nhận là di tích quốc gia theo quyết định số 54 - THTT/QĐ ngày 29.4.1979.
• Năm 2001, khu chứng tích Sơn Mỹ được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.
• Khu chứng tích Sơn Mỹ là di tích thảm sát duy nhất tại Việt Nam còn giữ được những bức ảnh quan trọng thể hiện sự man rợ của đế quốc xâm lược và sự kiên cường, bất khuất của nhân dân địa phương. Ngày nay, thuật ngữ: Mỹ Lai của Việt Nam vẫn được dùng để so sánh với các vụ càn quét của lính Mỹ và liên minh vào các tay súng Irắc.
• Năm 2003, Bộ Văn hóa thông tin Việt Nam hỗ trợ kinh phí 11,7 tỷ đồng nâng cấp công trình. Khuôn viên ngoài trời được phục dựng với cảnh tượng tang tóc giống xưa. Nhà trưng bày xây theo mô típ nhà mồ. Công trình có thêm nhà ăn, phòng khách và phòng xem phim tài liệu Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai.


--------------------------------------------------------------------------------

KHU CÔNG NGHIỆP NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT QUẢNG NGÃI:
Dung Quất nơi cách đây 500 năm trong một chuyến chinh Nam, vua Lê Thánh Tông đã dừng chân để thưởng thức một phong cảnh hoang sơ đầy thi vị của một bãi biển xanh ngắt, lộng gió là một vịnh sâu và rộng. Xung quanh là một vùng đất rộng lớn bằng phẳng. Bao thế kỉ trôi qua Dung Quất vẫn ngủ yên với thời gian! Đến ngày 2/8/1995 cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã phê duyệt “Quy hoạch tổng thể kinh tế trọng điểm miền Trung “bao gồm 2 cụm công nghiệp — du lịch dịch vụ lớn ở Liên Chiểu (Đà Nẵng) và Dung Quất (Quãng Ngãi). Dung Quất đã thức dậy, sau một thời gian khảo sát nghiên cứu, ban quản lý khu công nghiệp Dung Quất đã đưa hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể có tính khả thi để xây dựng cụm công nghiệp này gồm:
- Khu công nghiệp lọc dầu và chế biến các sản phẩm dầu mỏ.
- Khu công nghiệp chế biến các phụ kiện và lắp ráp dàn khoan dầu khí, ống dẫn dầu và dầu khí.
- Khu đóng và sửa chữa tàu biển.
- Khu công nghiệp chế biến quặng và luyện cán thép.
- Khu chế biến nông lâm hải sản.
- Cảng container cho xuất nhập khẩu và trung chuyển với công suất khoảng 3 triệu container/ năm.
- Khu dân cư, dịch vụ và đô thị
Tháng 2/1996, đã khởi công xây dựng nhà máy lọc dầu số 1. Cảng Dung Quất được xây dựng sẽ là một hải cảng quốc tế lớn và hiện đại vào bậc nhất nước thuận tiện cho việc thông thương, giao lưu kinh tế — văn hóa với các khu vực trong nước và các nước trên thế giới. Tổng trị giá xây dựng khu lọc dầu Dung Quất lên tới 1,3 tỉ USD dự định hoàn thành nhà máy lọc dầu số 1 vào cuối năm 2001 với công suất 6,5 triệu tấn dầu thô/ năm, tạo công ăn việc làm cho 100 ngàn lao động, ngân sách nhà nước sẽ tăng khoảng 6 tỉ USD. Cùng với sự hình thành cảng và các khu công nghiệp nơi đây sẽ xuất hiện thành phố Vạn Tường với quy mô 45 ngàn dân vào năm 2000 và 120 ngàn dân vào năm 2010.
Công nghiệp Dầu Khí
1. Công nghiệp khai thác dầu:
Dầu khí là một ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu. Tiềm năng dầu khí Việt Nam được dự báo ở mức khá cao qua việc đánh giá các bể trầm tích. Bể trầm tích sông Hồng có tiềm năng dự báo khoảng 1 tỷ tấn dầu quy đổi, hiện nay đang có một số phát hiện khí đốt, trong đó có mỏ khí Tiền Hải (Thái Bình) đang được khai thác. Bể trầm tích Cửu Long có tiềm năng dự báo khoảng 2 tỷ tấn dầu quy đổi, hiện nay ở đây đang có các mỏ dầu khí Bạch Hổ và Rồng đang được khai thác. Bể trầm tích Thổ Chu — Mã Lai có tiềm năng dự báo khoảng vài trăm triệu tấn dầu quy đổi. Trữ lượng khí đối ở các mỏ lên đến khoảng 2.000 tỷ m3.
Năm 1994, nhiều công ty thăm dò dầu khí đã phát hiện thấy dầu và khí với trữ lượng đáng kể. Mishubishi thấy dầu ở lô 15 — 2, AEDC thấy dầu ở lô 05 — 3, FEDCO thấy dầu ở lô II — 1, BP (Anh), Statoil (Na Uy) và ONGC (Ấn Độ) phát hiện mỏ khí lớn tại lô 06 có trữ lượng gần 60 tỷ m3, từ năm 1998 sẽ khai thác thương mại với sản lượng ước tính 3 tỷ m3/ năm.
Về trữ luợng, theo Petrovietnam trữ lượng dầu khí (quy đội dầu) đến 5 — 6 tỷ tấn. Riêng về khí theo đánh giá của tập đoàn BP (Anh), trữ lượng khí thiên nhiên ở Việt Nam có thể đến 300 — 400 tỷ m3.
Năm 1994, mỏ Bạch Hổ do Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro khai thác cho sản lượng 7 triệu tấn. Ngày 14/10/1994, mỏ Đại Hùng được chính thức khai thác bởi tổ hợp các công ty BHP (Úc), Petronas (Malaixia), Total (Pháp), Sumitomo (Nhật Bản) và Petrovietnam.
Đến năm 1995, nước ta đã ký kết được 27 hợp đồng tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí với các công ty nước ngoài, trong đó 20 hợp đồng đang được triển khai thực hiện.
Những phát hiện mới về các mỏ dầu, khí ở thềm lục địa Việt Nam được các công ty dầu khí tuyên bố liên tục, đang trong giai đoạn xác định trữ lượng để đầu tư khai thác theo hợp đồng phân chia sản phẩm với Petrovietnam.
Công ty dầu khí Nhật — Việt (JVPC) tuyên bố phát hiện vỉa dầu lớn có chất lượng tốt ở lô 15 — 2. Liên minh BP (Anh), Statoil (Na Uy), ONGC (Ấn Độ) công bố tìm được mỏ khí khổng lộ ở lô 06 phía Nam Côn Sơn. Liên minh BP — Staloil cũng tìm thấy dầu và khí ở độ sâu 3.000 m tại lô 05 — 2. BP tìm thấy dầu ở lô 9 — 2…. Tổ hợp MJC do Mobil (Hoa Kỳ) điều hành đã tìm thấy những dấu hiệu khả quan về dầu khí ở lô 05 — 1b.
Ngày 12/10/1997, xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro (VSP) đã hoàn thành khai thác tấn dầu thô thứ 50 triệu kể từ ngày tìm thấy dòng dầu đầu tiên tại mỏ Bạch Hổ (tháng 6/1986). Vietsovpetro hiện có trên 5.000 kỹ sư, công nhân Việt Nam, 1.000 chuyên gia, kỷ sư, công nhân Nga làm việc ở 11 giàn khoan cố định và 6 giàn khoan nhẹ BK tại hai mỏ Bạch Hổ và Rồng. VSP còn có căn cứ dịch vụ tổng hợp trên bờ, hai dàn nén khí lớn nhỏ, ba tàu chứa dầu Chí Lăng, Chí Linh, Ba Vì. Đây là những cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng, góp phần đưa sản lượng khai thác dầu của Vietsovpetro từ 20.000 tấn/ ngày đêm (năm 1986) lên 27.000 tấn/ ngày đêm (tháng 10/1997) và cung cấp vào bờ từ 1,5 triệu m3 đến 2 triệu m3 khí đồng hành/ ngày.
2. Công nghiệp khai thác khí đốt và khí đồng hành
Ngoài dầu thô là sản phẩm chính được khai thác từ mỏ, có giá trị cao trong thương mại, tạo ra nhiều loại sản phẩm sau khi đưa vào chế biến, còn có khí đồng hành là sản phẩm phụ được khai thác, chế biến thành phân bó, gas (khí hóa lỏng) hoặc xử lý thành khí đốt chạy tua bin máy phát điện.
Tính trung bình cứ khai thác được 1 tấn dầu thô thì có khoảng 150 m3 khí đồng hánh thoát ra. Hiện nay, ba mỏ Bạch Hổ, Rồng do liên doanh Vietsovpetro khai thác, Đại Hùng do liên doanh BHP (Úc), Petro Vietnam, Petronas (Malaixia), Total (Pháp), Đại Hùng Oil Development (Nhật) khai thác với sản lượng tổng cộng mỗi ngày 20.000 tấn dầu thô, phải đốt bỏ đến 3 triệu m3 khí đồng hành (khoảng gần 1,1 tỷ m3/ năm.
Mỗi m3 khí đồng hành được xử lý đưa vào chạy máy phát điện cho 3KW điện với giá thành chỉ bằng 30% so với dùng dầu DO chạy máy phát điện. Khai thác chế biến và sử dụng khí đồng hành ở nước ta là một chương trình lớn đang được khẩn trương triển khai, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế.
Bước đầu của chương trình này là công trình đưa nhanh khí từ mỏ Bạch Hổ vào bờ, cung cấp 1 triệu m3 khí mỗi ngày cho nhà máy điện tua bin khí Bà Rịa để sản xuất 3 triệu KW điện. Giai đoạn một của công trình dẫn khí vào bờ được khẩn trương hoàn tất để sử dụng trong quý 2/1995. Giai đoạn hai củ công trình là đưa khí về nhà máy điện Thủ Đức được triển khai cùng với việc chuẩn bị xây dựng nhà máy chế biến khí hóa lỏng tại Long Hải, cảng và kho chứa gas.
Vốn đầu tư cho chương trình dẫn khí, sử dụng và chế biến khí đồng hành là rất lớn, cần đến hàng tỷ USD với sự hợp tác của nhiều bên. Giữa năm 1994, dự án khai thác, sử dụng khí từ mỏ dầu trị giá 400 triệu USD đã được kí kết giữa Petro Vietnam với British Gaz (Anh), Mitsui (Nhật), Tranh Canada Pipeline (Canada).
Dự án khai thác khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ đưa vào bờ để sản xuất điện tại nhà máy điện Bà Rịa và nhà máy điện Phú Mỹ I đã tăng sản lượng khí sử dụng từ 280 triệu m3 năm 1996 lên 600 triệu m3 năm 1997. Một giàn nén khí trung tâm có công suất 5,8 triệu m3/ ngày tại mỏ Bạch Hổ do tổ hợp Samsung NTT (Hàn Quốc) và Boiygess (Pháp) có một nửa công suất giàn nén khí được sử dụng bơm tăng áp suất vỉa để tăng sản lượng khai thác dầu, phần công suất còn lại sử dụng đưa khí vào bờ để tăng sản lượng khí cho các nhà máy điện từ 1 tỷ m3 đến 1,4 tỷ m3 trong năm 1998.
Dự kiến đến năm 200, khi các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng được tăng cường khai thác và một số mỏ dầu, khí khác được đưa vào khai thác sẽ cho sản lượng 20 triệu tấn dầu thô/ năm, sản lượng khí đồng hành đạt đến 3 tỷ m3 / năm. Cùng với khai thác, chế biến dầu mỏ, công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng khí ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh.
3. Công nghiệp lọc dầu:
Hiện nay, nước ta nhập khẩu gần như toàn bộ các sản phẩm xăng dầu cần thiết, trong khi đó là xuất khẩu toàn bộ dầu thô sản xuất ra. Sau một thời gian nghiên cứu các dự án đầu tư vào công nghiệp lọc dầu, Chính phủ quyết định chủ động đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất.
Nhà máy này có quy mô lớn, công suất 6,5 triệu tấn/ năm, vớ vốn đầu tư khoảng 1,5 tỷ USD và được xây dựng theo phương thức nước ta tự đầu tư và vay một phần của nước ngoài. Dự kiến đến năm 2001, nhà máy lọc dầu số 1 sẽ đi vào hoạt động, trực tiếp cung cấp cho thị trường Việt Nam các chủng loại sản phẩm: propylen, khí hóa lỏng, xăng ôtô không pha chì, nhiên liệu phản lực, dầu hỏa dân dụng, diezel động cơ, diezel công nghiệp, nhiên liệu FO… thay thế hàng ngoại nhập. Nguyên liệu cho nhà máy được cung cấp từ các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng và các mỏ khác ở thềm lục địa Việt Nam. Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất sẽ thu hút hàng vạn lao động tại địa phương và khu vực, sẽ đóng góp 1 tỷ USD vào GDP của đất nước mỗi năm.


--------------------------------------------------------------------------------

CẢNG DUNG QUẤT QUẢNG NGÃI:
Dung Quất có tên gọi từ Vũng Quýt mà ra. Dung Quất là cách đọc của người Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, về mặt lịch sử vùng này là một địa danh gắn liền với nhiều sự kiện trọng đại của thế kỉ 15 đến thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Ở bốn xã của vùng đông Bình Sơn dấu tích cuộc hành quân chinh phạt Chiêm Thành (1471) của vua Lê Thánh Tôn. Vua đã sai tướng Lê Duy Các dẫn binh sĩ cùng thuyền theo vịnh nhỏ ban đêm đánh chiếm cửa Sa Kì và bán đảo Phước Thiện chặn đường rút lui của quân địch, còn nhà vua đem đại quân đến cửa Tân Cáp, cả hai cánh quân dựng cờ thiên tử khiến quân Chiêm Thành hoảng sợ tháo chạy, quân Đại Việt chiếm toàn bộ khu vực nay là Dung Quất — xưa là thành Châu Sa (thành đất kiên cố nằm ở phía Bắc sông Trà Khúc). Sau đó vượt qua sông Trà Khúc phá tan hệ thống phòng thành ở Cổ Lũy (nam sông Trà Khúc) làm chủ hai vùng Châu Tư, Châu Nghĩa (dưới thời Chiêm Thành có tên là Cổ Lũy Động) tức vùng đất Quảng Ngãi.
Gần 5 thế kỉ sau khu vực Dung Quất đã đập tan “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Vào năm 1964, Mỹ cho xây dựng khu căn cứ Chu Lai lớn nhất vùng Đông Dương, vùng Dung Quất trở thành nơi hoạt động của ta và của địch. Ngày 28/8/1965, Trung đoàn I (mật danh trung đoàn thép quân khu 5) đã cùng phối hợp với quân dân Quảng Ngãi đập tan cuộc hành quân Starlight, đây là cuộc hành quân hỗn hợp với sự tham gia của 8.000 quân Mỹ và chư hầu, lập nên một kỳ tích oai hùng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ngày nay chúng ta vẫn thấy được vết tích của thiết giáp trực thăng…. Mang nhãn USA nằm phơi giữa nắng mưa và gió biển.
Khu quy hoạch Dung Quất có hai ranh giới nằm trong hai huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) và Núi Thành (Quảng Nam) diện tích toàn bộ mặt đất và vùng biển là 16.000ha. Khu này có nhiều điều kiện thuận lợi và non nước hữu tình. Đặc biệt, dọc theo bờ biển phía Đông từ Vạn Tường đến An Thành có nhiều bải cát rộng và đồi thoai thoải thích hợp việc xây dựng khu dân cư cũng như các khu du lịch. Sân bay Chu Lai xây dựng thời chiến có đường băng dài 3,25km còn nhiều đất trống có thể cải tạo lại làm sân bay quốc tế và nơi sửa chữa máy bay, vùng đất lân cận có thể thành một khu công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin…. Phía Tây cảng khoảng 10km là quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam giúp cho việc lưu thông được dễ dàng thuận tiện. Ngày nay, cảng Dung Quất với địa thế thuận lợi có rất nhiều dự án về phát triển kinh tế chắc chắn sẽ là bàn đạp đưa miền Trung phát triển.


--------------------------------------------------------------------------------

KẸO GƯƠNG QUẢNG NGÃI:
Tại thị xã Quảng Ngãi có đủ các loại đường ngon nổi tiếng như: đường phổi, đường phèn, mạch nha, nhưng ngọt ngào thi vị mang màu sắc Quảng Ngãi khó quên nhất có lẽ là món kẹp Gương.
“Chim mía Xuân Phổ
Cá Bống Sông Trà
Kẹo Gương Thu Xà
Mạch nha Mộ Đức”

Kẹo gương xuất xứ tù thị trấn Thu Xà cách thị xã Quảng Ngãi chừng 10 km về hướng Đông. Có người bảo tên thật của loại kẹo gương nổi tiếng naỳ có nguồn gốc bên Triều Châu được du nhập vào Thu Xà từ thế kỷ 17 gọi là “Kia thứng” hay “Pô lí thứng”. Kẹo gương từng được vua Lê Trang Tông, thời nhà Lê Trùng Hưng dùng kẹo gương làm món tráng miệng trong triều nội. Tại Quảng Ngãi, nghề làm kẹo gương được phổ biến khắp nơi, nhưng chỉ có kẹo gương Thu Xà mới có giá trị đặc biệt và đã đi vào ca dao Quảng Ngãi như một thứ đặc sản tiêu biểu cho địa phương. Kẹo gương được làm từ đường cát trắng, mạch nha, mỡ heo, mè và đậu phộng…. Thông thường để có 10 kg kẹo thì phải dùng đến 3kg đường cát, 3kg đậu phộng, 200g mạch nha, 19g mỡ heo và một trái chanh tươi. Kẹo gương tuy rẻ tiền nhưng rất có giá trị. Miếng kẹo trong suốt như pha lê, giòn, có vị ngọt thanh lẫn vị béo. Ăn kẹo gương dùng với nước trà thì rất thú vị! Tuy ngon nhưng kẹo gương không để lâu được. Nếu để quá 10 ngày kẹo sẽ có vị chua và mất đi hương vị thơm ban đầu.


--------------------------------------------------------------------------------

LÝ SƠN - BẢO TÀNG HOÀNG SA GIỮA BIỂN:
Huyện Lý Sơn, tên dân gian gọi là Cù Lao Ré, nằm về phía đông bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền 15 hải lý, có diện tích gần 10km2, gồm hai đảo: Đảo lớn (Cù lao Ré) và đảo nhỏ (Cù lao Bờ Bãi). Ở phía đông Cù lao Ré còn có hòn Mù Cu, là một bãi đá nhô cao trên mặt biển. Đến Lý Sơn, chúng ta không chỉ được khám phá nền văn hóa Sa Huỳnh, Chăm-pa đã từng có mặt từ mấy chục thế kỷ trước mà còn tìm hiểu một bảo tàng về Hoàng Sa, với những di tích, hiện vật quý - những bằng chứng khẳng định chân lý duy nhất đúng: Quần đảo Hoàng Sa là máu thịt, là chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam…
Trước khi ra Lý Sơn công tác, tôi có gặp Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, Phó giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Quảng Ngãi. Ông là người dày công nghiên cứu về Lý Sơn và đã có nhiều bài viết, nhiều công trình khoa học được công bố.
Dù rất bận, ông vẫn dành cho tôi gần một giờ đồng hồ để trao đổi, ghi cho những địa chỉ cần tìm, cần liên hệ ở ngoài đảo. Có trong tay những điều cần thiết, tôi hăm hở lên tàu đến với vùng đất thiêng, với một tâm trạng của người đi khám phá.
Theo sử sách ghi lại, Lý Sơn là một vùng đất cổ, có cư dân sinh sống cách đây khoảng 3.000 năm. Những di sản trong lòng đất đã được khai quật, cùng với vết tích văn hóa trên mặt đất, cho thấy cư dân thời tiền sử thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh đã cư trú trên đảo này. Họ đã để lại trong khu cư trú bộ di vật được khai quật, bao gồm các công cụ canh tác nông nghiệp và chế biến nông sản như: cuốc đá, rìu đá, chày nghiền, bàn nghiền… Tiếp theo nền Văn hóa Sa Huỳnh là Văn hóa Chăm-pa, với những di sản vật thể được khảo cổ học phát hiện từ trong lòng đất; cùng với những dấu ấn hết sức đậm nét dễ nhận ra trong đời sống tâm linh của cư dân trên đảo, những vị thần linh được người Chăm tôn thờ như Siva, Uma… Sau này, người Chăm dần được Việt hóa và hòa huyết cùng cư dân Việt trên đảo, nên đã sùng kính và lập đền thờ, với tên gọi như: Ngu Man Nương Nương và Thiên Y-a-na. Những di tích về văn hóa Chăm-pa đang còn hiện hữu trên đảo là miếu Bà Lồi, chùa Hang, dinh Bà Trời, Giếng Vuông…
Song, đậm nét nhất, để lại nhiều dấu ấn nhất đấy là Văn hóa Việt. Cách đây khoảng 400 năm, cư dân Việt đến Lý Sơn khai khẩn. Theo sử sách, họ là những ngư dân vùng An Hải, Sa Kỳ của các huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Phổ hệ của các dòng họ ghi lại rằng: 15 vị tiền hiền của 15 dòng họ lớn, vào năm Mậu Thân 1609, đời Vua Lê Kinh Tông (Hoàng Định thứ 9) di cư ra đảo, phân chia thành hai khu vực. Ở phía tây đảo có bảy dòng họ gồm: Phạm Quang, Phạm Văn, Võ Xuân, Võ Văn, Lê, Nguyễn và Đặng. Bảy vị tiền hiền khai phá vùng đất này và lập nên xã Lý Vĩnh, thời nhà Nguyễn gọi là phường An Vĩnh. Ở phía đông đảo có tám dòng họ là: Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn và Lê, lập nên xã Lý Hải, mà trước đây thời Nguyễn gọi là phường An Hải. Cũng xuất phát từ thời điểm này, lịch sử mở ra một chương mới, đấy là việc chính quyền các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiến hành mở mang bờ cõi ra hướng biển, mà tiêu biểu là từ đời Gia Long và Vương Triều Nguyễn, đã cử các đội thuyền đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một số đảo ở phía Nam để khai thác sản vật, xác lập chủ quyền. Những di tích dày đặc trên đảo, có thể bắt gặp ở nhiều lĩnh vực của đời sống, có mặt ở hầu hết các vùng cư dân cư trú. Cùng với hệ thống các di tích vật thể dày đặc, hầu như còn nguyên vẹn, Lý Sơn còn một hệ thống di sản văn hóa phi vật thể truyền thống đặc hữu vô cùng phong phú, được lưu giữ trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, văn học dân gian, văn hóa ẩm thực và các nghề thủ công… Tất cả những di sản này đều gắn liền với cuộc đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh với giặc cướp biển, gắn liền với truyền thống dựng đảo và giữ đảo, khai thác và bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của tiền nhân thủa trước. Hiện nay, Lý Sơn có ba xã là An Hải, An Vĩnh (ở đảo lớn) và An Bình (ở đảo bé), có dân số gần 20.000 người.
Trong số sử sách ghi chép về Lý Sơn, tài liệu được xác định sớm nhất viết về hòn đảo này, theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, đó là “Toản tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” của Đỗ Bá, gồm có bốn quyển. Trong quyển một có một bản đồ vẽ vùng phủ Quảng Nghĩa và phủ Thăng Hoa, đã gọi Cù Lao Ré là Du Trường Sơn. Sách viết “…Sa Kỳ hải môn ngoại hữu nhất sơn, sơn thượng đa sản mộc, danh Du Trường, hữu tuần…”, nghĩa là “…Ở phía cửa biển Sa Kỳ, có một núi, trên núi có nhiều sản mộc, tên là núi Du Trường (Du Trường-chữ Hán có nghĩa là cây Dầu), có đặt quan tuần sát”. Theo nhận định của các nhà sử học, tài liệu này được Đỗ Bá viết vào năm 1630 hoặc 1653. Lần giở những tài liệu lịch sử, thì vào năm 1402, nhà Hồ đem quân đánh Chăm-pa, tiến vào vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy Động. Vua Chăm-pa là Ba Đích Lại (Jaya Somhavarman V) ký hiệp ước nhường vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy Động cho Hồ Quý Ly. Nhà Hồ chia vùng đất này thành bốn châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Hai châu Thăng, Hoa thuộc Quảng Nam. Hai châu Tư, Nghĩa thuộc Quảng Ngãi. Hai châu này nằm ở hai bờ Bắc-Nam sông Trà Khúc. Theo Giáo sư Diệp Đình Hoa, thì thời gian này đã có gia phả dòng họ người Việt ở trên đảo Lý Sơn. Đến năm 1471, Vua Lê Thánh Tông đưa quân bình định phương Nam, sáp nhập một nửa vùng đất Chăm-pa vào lãnh thổ Đại Việt, đặt tên là Thừa Tuyên Quảng Nam, trải dài từ Nam đèo Hải Vân (Đà Nẵng) đến mũi Varella (Phú Yên), dựng đặt Thạch Bi trên đỉnh núi để phân định cương thổ. Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam gồm ba phủ là: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn, mỗi phủ được chia làm ba huyện. Vùng đất Quảng Ngãi nằm trong phủ Tư Nghĩa, gồm ba huyện là Bình Sơn, Mộ Hoa và Nghĩa Giang. Đảo Lý Sơn thuộc sự quản lý của huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa. Đến thời các Chúa Nguyễn, đảo Lý Sơn được gọi là Cù lao Ré, gồm có hai phường là An Hải và An Vĩnh. Triều Nguyễn Gia Long đặt Cù lao Ré là tổng Lý Sơn, gồm hai xã An Hải, An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn. Thời Pháp thuộc, vào năm 1931, đổi tổng Lý Sơn thành đồn Lý Sơn, trực thuộc Tuần Vũ Quảng Ngãi, còn có tên gọi là đồn Bang Tá. Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, đảo Lý Sơn được gọi là tổng Trấn Thành. Năm 1946, Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Ngãi đổi tên tổng Trấn Thành thành xã Lý Sơn. Năm 1951 thực dân Pháp chiếm đóng đảo Lý Sơn, sáp nhập Lý Sơn vào địa giới hành chính của thị xã Đà Nẵng. Suốt từ năm 1954 đến năm 1975, chính quyền Sài Gòn chia đảo Lý Sơn làm hai xã là Bình Vĩnh và Bình Yến, thuộc quận Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Sau giải phóng miền Nam, nước nhà hoàn toàn thống nhất, Lý Sơn vẫn duy trì địa giới hành chính và tên gọi như cũ. Ngày 1-1-1993, huyện đảo Lý Sơn được thành lập theo Quyết định số 337 của Thủ tướng Chính phủ, gồm ba xã An Hải, An Vĩnh và An Bình.
Dù trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là trong hai cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc, song do Lý Sơn nằm xa đất liền, mang tính chất là một ốc đảo và là một hòn đảo khá yên bình, ít bị ảnh hưởng của chiến tranh tàn phá, nên các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hầu như còn nguyên vẹn, được các dòng họ và nhân dân trên đảo giữ gìn, bảo tồn khá tốt. Đây chính là những chứng cứ có giá trị khẳng định những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, góp phần vào chiến lược phát triển văn hóa-con người, giữ gìn và phát triển các các giá trị đạo đức truyền thống, phục hồi những định chế tốt đẹp của làng, xã cổ truyền, ổn định đời sống xã hội trên huyện đảo. Đồng thời, đây còn là cơ sở để các cơ quan chức năng xây dựng các dự án bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa trên huyện đảo, góp phần giáo dục truyền thống oanh liệt dựng nước và giữ nước của tổ tiên cho muôn đời con cháu, nhân lên sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, phần lớn các di sản này đều gắn liền với việc khai thác và bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa - hai quần đảo không thể tách rời của dân tộc, mà tiền nhân đã đổ bao nhiêu xương máu giữ gìn. Các di tích đã và đang hiện hữu, cũng như các tài liệu đang còn được lưu giữ trong các dòng họ, khẳng định một chân lý duy nhất đúng: Hoàng Sa là máu thịt, là chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.


--------------------------------------------------------------------------------

CHÙA HANG ĐÁ KHÔNG SƯ Ở LÝ SƠN QUẢNG NGÃI:
Ẩn mình trong hang đá, một mặt quay ra biển Đông, chùa “không sư” ở xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi luôn hút du khách trong vùng và thập phương đến thăm viếng trong những ngày lễ lớn như Tết Nguyên đán, Vu lan, Phật đản…
Ngôi chùa có tên là “Thiên Khổng Thạch Tự” (Chùa hang đá trời sinh) nhưng do không có sư trụ trì nên người dân địa phương goi là “chùa không sư”. Ông An, người ngày ngày hương khói, quét dọn chùa, cho biết: “Nhiều nhà sư đến với chùa nhưng chỉ ở thời gian ngắn rồi ra đi, không hiểu vì sao”. Hiện chùa được một nhóm tăng ni, phật tử trong huyện đảo Lý Sơn thay nhau trông nom, quét dọn và hương khói. Chùa được xếp hạng thắng cảnh quốc gia từ năm 1994.
Chùa không sư vốn là một hang đá lớn nằm trong lòng núi Thới Lới, hình thành từ nham thạch của núi lửa thời tiền sử, hướng ra biển Đông. Ông Trần Công Bạch cùng các bậc tiền hiền làng An Hải lập chùa cách đây hơn 400 năm dưới triều vua Lê Kính Tông.
Hang dài 24 m, trần hang cao 3,2 m, diện tích chừng 480 m². Ngay trước chùa có hồ sen hình bán nguyệt, những cây bàng biển cổ thụ hàng trăm năm tuổi, có hình thù kỳ quái và tượng Phật bà Quán Thế Âm hướng ra biển Đông phù hộ cho chuyến đi biển của ngư dân đảo luôn bình yên trở về. Phía xa xa là các mỏm đá nhô ra, bãi cát trắng sạch lấp lánh vỏ sò, vỏ ốc.
Chùa có bàn thờ Phật Di Đà, Như Lai, Di Lặc ở chính giữa, bàn thờ sư tổ Đạt Ma ở bên trái, bàn thờ 12 Diêm Vương, ba vị thủy tổ kế tiếp phụng sự chùa (là Trần Công Thành, Trần Công Hiền, Trần Công Quân) và 7 vị tiền hiền làng An Hải bên phải. Các bệ thờ được gia công từ nhũ đá tự nhiên. Đặc biệt có hai lối hẹp dài hun hút với hai hướng đối ngược, được dân bản địa quan niệm là “đường lên trời và đường xuống địa ngục”. Do đường đi tối, khá nguy hiểm nên lối đi này được chặn lại để tránh bước chân của các vị khách tò mò.
Vào trong chùa, những hạt nước từ thạch nhũ rơi tí tách quyện với mùi khói hương tạo nên không khí trầm mặc. Chùa im lìm dưới lớp đá vôi với những đường vân uốn éo, lồi lõm dấu vết của những con sóng biển hung dữ từng quật vào hang trăm năm trước. Trong cái mờ ảo, lung linh đó, ta như có cảm giác lạc vào chốn bồng lai, tiên cảnh. Lòng người viếng chùa tĩnh lại, những suy tư, âu lo của cuộc sống bỗng chốc tan biến, chỉ còn lại sự hoà hợp giữa thiên nhiên, con người và một cảm giác thoải mái, thảnh thơi tràn ngập. Đó là những gì chùa hang đá trời sinh gây ấn tượng khi khách vào trong.
Các sự kiện lớn được tổ chức tại chùa hằng năm là ngày Tết Nguyên đán, lễ Vu Lan, Phật đản, ngày giỗ các vị tiền hiền. Vào những dịp đó, nhân dân địa phương tới hành lễ, niệm Phật, chiêm bái rất đông.


--------------------------------------------------------------------------------

VĂN HIẾN QUẢNG NGÃI:
Chúng tôi được biết qua bài tham luận của Giáo sư Hoàng Chương, và của nhiều đại biểu khác, rằng Quảng Ngãi là một vùng Địa linh nhân kiệt. Bao nhiêu danh nhân, danh tướng xuất thân tại vùng nầy. Mà cũng là một trong những cái «nôi» của dân ca, âm nhạc và kịch nghệ truyền thống.
Vị trí của Quảng Ngãi trong lĩnh vực dân ca và âm nhạc kịch nghệ truyền thống Việt Nam.
Trong toàn cõi Việt Nam, người Kinh có 4 vùng lớn trong đó âm nhạc và kịch nghệ rất dồi dào, phong phú, có mặt trong những giai đoạn quan trọng của một đời người, trong những sinh hoạt lao động, những lễ hội .
1. Miền Bắc : Lưu vực sông Hồng, Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá.
Trong dân gian, có nhiều loại như:
Hát ví, hát đúm, hát xoan, hát ghẹo, Quan họ Bắc Ninh, Ví dặm, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Hò sông Mã Thanh Hoá.
Trong loại thính phòng và kịch nghệ, có:
Ca trù , Hát chèo.
2. Miền Trung: Huế (Thừa Thiên )
Trên sông Hương, các cô lái đò cất cao tiếng để Hò mái nhì Hò mái đẩy , Đêm đêm, cùng với tiếng chày nện trên cối, nông dân nam nữ đua sức thi tài qua những câu Hò giã gạo.
Trong những tiệc vui, trong phòng khách của tư nhân hay cả trong cung phủ Đại nội, ban Ngũ tuyệt trổi những bản theo giọng Khách giọng Nam của những bài Ca Huế.
Trong các lễ lớn của Triều đình hai đội Đại Nhạc, Tiểu Nhạc, tấu những bản Nhạc cung đình. Trong rạp Duyệt thị đường, có diễn những tuồng hát bội (hay hát bộ, hát tuồng) với những đào kép giỏi được tuyển lựa. Có đội Ba Vũ biểu diễn các vũ khúc ít được thấy trong dân gian.
3. Ở Nam Trung bộ (Liên khu 5)
Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi , cả một vùng, “lưng dựa Trường Sơn, mắt nhìn ra Biển Đông ”, có rât nhiều loại dân ca độc đáo: Hát ru, nhiều loại Hò, đặc biệt là Hò Khoan, Hò đưa linh, Hát bả trạo.
Kịch nghệ rất phong phú và nổi bật hai loại Hát bài chòi và Hát tuồng (Hát bội hay Hát bộ )
4. Miền Nam ( lưu vực sông Cửu Long ).
Trong dân gian có những câu Hát ru. Trong đồng ruộng sâu đầy nước, trong những mùa cấy vang lên những câu Hò lẽ, nông dân nam nữ người buông kẻ bắt những câu Hò giao duyên, Hò quốc sự, hát cho nhau những điệu Lý duyên dáng, tình tứ. Trên các con rạch nhỏ sông dài, từ những con thuyền, người chèo cất lên những câu hò chèo thuyền, Hò đối đáp.
Trong những đêm trăng, hay nhân dịp đám hỏi đám cuới, có những nhóm đờn ca tài tử thu hút nhiều thính giả mộ điệu. Những gánh hát bội, hát cải lương, đi khắp lục tỉnh diễn những vở tuồng theo nhiều loại, và người xem luôn đến chật rạp. Dân ca, âm nhạc kịch nghệ truyền thống vùng miền Nam Trung bộ rất phong phú
Nhiều dân ca dính liền với đời sống con người từ lúc sơ sanh đến lúc trở về với cát bụi: Hát ru (khác hẳn 3 miền Bắc Trung Nam,) Hò lao động, Hát đối ca Nam nữ, Hò đưa linh. Đặc biệt trong vùng nầy có loại Hò khoan , khác lối Hò khoan các vùng khác, bao gồm những điệu hò đặc biệt từ câu Hò nghé ngọ, dẫn trâu đi cày, đuổi trâu về chuồng, Hò đi liền theo các công việc đồng áng, cấy lúa, đập lúa, xay lúa giã gạo, công việc trên cạn hay dưới nước, Hò đua ghe.
Hò cái, hò con, tiếng buông tiếng bắt câu Kể câu Xô, theo nhiều thể thơ, hay câu văn biền ngẫu, nét nhạc bổng trầm, nhịp buông lơi hay dồn dập, tùy theo công việc nặng nhẹ, trên cạn hay dưới sông, những câu hò khoan, đa dạng với nhiều đề tài phong phú đã từng làm cho nông dân Quảng Ngãi, nhờ câu hò mà quên mệt nhọc, hăng hái làm việc, năng suất cao, và trong những dịp gặp nhau, có thể qua câu hò trao đá đổi vàng, đi đến việc gắn bó lâu dài, kết nghĩa trăm năm.
Trước khi Hát bài chòi «từ đất lên giàn», trở thành một nghệ thuật sân khấu, bài chòi từ trò chơi đã trở thành một bộ môn nghệ thuật rất độc đáo: chỉ một diễn viên, không cần dặm măt, xiêm áo lộng lẫy, động tác ước lệ, một mình đóng cả các vai trong tích truyện Thoại Khanh Châu Tuấn, và chỉ có một cây đàn nhị và sanh sứa phụ hoạ. Nét nhạc chuyển từ điệu Cổ bản tươi vui qua điệu Xuân nữ buồn thảm, với nhịp ba bỏ một và tiếng sanh sứa đặc biệt, như tiếng ve gọi hè.
Các bạn tại Bình định cho tôi nghe các loại bài chòi và tôi có dịp nghe một nghệ nhân một mình đóng nhiều vai trong trích đọan Thoại Khanh Châu Tuấn. Tôi có may mắn về nước đi diền dã, dự được Hội thảo về Bài chòi tại Thuận Hải và có dịp biết Chị Lệ Thi.
Trên thế giới, người hâm mộ kịch nghệ đang say mê Pansori của Triều Tiên. Mà Pansori là một loại kịch nghệ sân khấu mà người phương Tây gọi là «Opéra à un seul acteur»( Đại ca kịch mà chỉ có một diễn viên). Nữ hay nam cũng được, nhưng thường là nữ. Một diễn viên đóng nhiều vai mà chỉ có trên tay một cây quạt, hát nhìều điệu, nhiều hơi khác nhau và tiết tấu thay đổi chuyển từ chậm sang mau, mà người Triều Tiên gọi là «Chang dan» (Trường đoản= dài, ngắn).
Nhạc cụ phụ hoạ chỉ có một cái trống Puk (trống thùng hai da), người cầm trống dùng một dùi khi đánh vào mặt trống, khi gõ vào tang trống, khúc nào hát hay có thể vừa đánh trống vừa la lên « Hay quá !» Trước kia, chỉ ở trong nước Triều Tiên mới có người thưởng thức Pansori. Ngày nay, sau khi Pansori được đem trình diễn bên Pháp, Đức, Mỹ, Pansori có sức hấp dẫn khán thính giả, mặc dầu, những người nầy không hiểu tiếng Triều Tiên.
Quảng Ngãi cái nôi của Hát bài chòi, nơi sinh ra NSND Lệ Thi, một nghệ nhân xuất sắc về Hát bài chòi, và có những nghệ nhân khác gốc Quảng Ngãi nhưng nghe đâu đang hành nghề ở nơi khác. Rất mong Quảng Ngãi tạo điều kiện cho nghệ thuật bài chòi sống lại và phát triển tại đây, để một ngày trong tương lai, nghệ thuật bài chòi có thể được người Việt trong và ngoài nước biết và cả người nước ngoài thưởng thức như nghệ thuật Pansori của Triều Tiên.
Nghệ thuật hát tuồng (hát bội hay hát bộ tùy theo các chuyên gia hay gọi) cũng là một ưu điểm trong kịch nghệ sân khấu của Quảng Ngãi, cùng với Bình Định và Quảng Nam. Giáo sư Hoàng Chương đã nhắc lại tên những nghệ nhân danh tiếng trong nghệ thuật Tuồng như Bầu Sáu, Bầu Bảy, Chánh Ca Huy Lệ Thi, Nguyễn thị Thời, Nguyễn Kim Hùng.
Tôi thấy rằng khi về nước đi diền dã, khi tìm hiểu về nghệ thuật Tuồng và Bài chòi tôi chỉ được hướng dẫn đến Bình Định gặp các nghệ nhân trong Nhà Hát tuồng Đào Tấn, đặc biệt NSND Võ sĩ Thừa, được Giáo Sư Hoàng Chương tạo cơ hội cho tôi đến Quảng Nam trong lần Hội thảo về nhà hoạt động Tuồng lỗi lạc Nguyễn Hiển Dĩnh, và tôi được làm quen với các nghệ nhân nghệ sĩ trong Nhà Hát Nguyễn Hiển Dĩnh. Trong só nghệ nhân tôi đã gặp có mấy bạn nói rằng mình gốc ở Quảng Ngãi.
Nhìn vào công việc sưu tầm, giữ gìn phát triển truyền thống âm nhạc kịch nghệ trên thế giới, chúng ta thử tìm hướng đi cho Quảng Ngãi trong lĩnh vực nầy.
Tại châu Âu, đặc biệt tại Pháp, Bảo tàng Viện Nghệ thuật và Truyền thống dân gian ( Musée des Arts et Traditons populaires ) vẫn còn cho người đi diền dã để ghi lại những truyền thống dân gian trong toàn nước Pháp còn được thịnh hành hay sắp bị chìm vào quên lãng. Và có những phòng đặt máy rọi hình dương bản, chiếu phim video những truyền thống mới thâu thập được cho sinh viên khoa dân tộc học, chuyên gia nghiên cứu âm nhạc dân gian, hay cho học sinh các trường xem.
Đài Fr3 mỗi sáng chủ nhựt có chương trình ca vũ nhạc dân gian, giới thiệu y phục, âm nhạc, vũ điệu các dân tộc các vùng Bretagne, Alsace, Provence v.v…Ở vùng Bretagne có 3 bà cụ Tri Yan mặc quần áo theo dân tộc Breton, hát những bài dân ca đặc biệt bằng thổ ngữ Breton mà được người Pháp hoan nghinh. Dĩa hát của Tri Yan bán khá nhiều. Ngoài ra có cậu Alain Stivel người Breton dùng kèn dăm đôi, đàn harpe (hạc cầm) dân gian , «kèn bị» theo phong cách mới được giới thanh niên cả nước Pháp hoan nghinh.
Ở Tây Âu, Trung Âu, Đông Âu đều có những cơ quan hay Hội nghiên cứu ca vũ nhạc dân gian, và thỉnh thoảng có liên hoan giữa các nước để tìm hiểu nhau về mặt văn hoá dân tộc .
Trung quốc, về mặt văn nghệ dân gian, từ lâu đã quên truyền thống âm nhạc kịch nghệ Triều châu. Từ hai ba năm nay truyền thống đó được phục hồi và có nhiều tiết mục về dân ca, nhạc thính phòng, và nghệ thuật sân khấu được dựng lại.
Chúng ta và mọi người trên thế giới chỉ có dịp xem những vở Jing xi (Kinh kịch) Nhưng có một kịch nghệ xưa hơn Kinh Kịch là Gun ku (Côn khúc) thịnh hành từ đời Minh (thế kỷ thứ 15) nhưng bắt ngưồn từ lâu hơn nữa, được chánh quyền và nhiều cơ quan nghiên cứu kịch nghệ Trung quốc quan tâm đến việc trùng tu và phục hưng lại. Nay có 6, 7 nơi dạy Côn khúc và đã dựng lại mấy vở xưa, mỗi hai năm có Liên hoan Côn khúc. Chánh quyền Trung quốc lập hồ sơ giới thiệu Côn khúc cho Unesco và cách đây 4 năm, bộ môn nầy đã được Unesco vinh danh Kiệt tác Văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Từ năm 1987, lúc tôi sang dự Hội nghị âm nhạc tại Bắc Kinh, Viện nghiên cứu âm nhạc của Thành phố có giới thiệu với tôi nhiều bài dân ca trong số 20000 bài đã được ký âm, trong số gần 50000 bài đã thâu thanh, dọc theo sông Hoàng Hà !
Ấn độ, có rất nhiều bài dân ca đủ các vùng văn hoá lớn, tàng trữ tại Sangeet Natak Akademi (Hàn lâm viện Ca Vũ Nhạc Ấn độ) Tân Đề ly (New Delhi) Miền Nam Ấn độ có một loại nhạc kịch Kathakali được thế giới hoan nghinh đón mời. Nhưng hơn 6 năm nay, chánh quyền và các hội nghiên cứu kịch nghệ miền Nam Ấn độ đã nghiên cứu và phục hưng một loại nhạc kịch cổ truyền, Kuttiyattam, lời trong kịch bản bằng tiếng Phạn (sanscrit) nhạc và múa rất độc đáo, có người cho đó là tiền thân của nhạc kịch Kathakali. Và cũng cách đây 4 năm Kuttiyattam được chánh phủ Ấn độ lập hồ sơ trình bày cho Unesco và cũng đã được Unesco tuyên dương là Kiệt tác Văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Nhựt bổn tuy rất tiến bộ trong các loại nhạc phương Tây, Giao hưởng, Nhạc nhẹ, Ca múa nhạc nhưng cũng tôn trọng ca vũ nhạc kịch dân gian và truyền thống. Hằng năm có lễ hội dân gian gọi là « bon» được tổ chức tại nhiều tỉnh, tại Tokyo còn mấy trăm người Thầy dạy đàn Koto theo hai truyền thống xưa Ikuta ryu ( Sanh điền lưu) và Yamada ryu ( Sơn điền lưu). Còn nhiều nghệ nhân dạy nhạc cổ đàn shamisen, (loại đàn tam) trống hát Nô ( ca vũ nhạc kịch cổ truyền) được Chánh quyền Nhựt bổn tặng danh hiệu «Quốc gia chi bửu».
Năm 2002 Nhưt bổn đã lập hồ sơ giới thiệu Hát Nô, một loại ca vũ kịch truyền thống từ thế kỷ thứ 15 cho Unesco và đã được Unesco tuyên dương Kiệt tác Văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Cách đây vài năm, trước nguy cơ do sự lan tràn ồ ạt nhạc phươngTây tại Indonesia, chánh phủ đã định chống lại bằng cách tổ chức đưa nhạc dân gian truyền thống vào trong chương trình giáo dục âm nhạc trong học đường.
Nhìn những sự kiện đó ở nước người, vị trí của một nơi gặp gỡ ba luồn văn hoá lớn, Sa huỳnh, Chăm pa, Đại Việt, chúng tôi thấy rằng tỉnh Quảng Ngãi có khả năng làm sống lại những sinh hoạt văn hoá thời xưa, có thể sưu tầm những loại dân ca, những bài Hò hoan cổ, đặt hững bài Hò khoan mới theo phong cách cổ, với nội dung mới, triệu tập các nghệ nhân gốc Quảng Ngãi từ các nơi về qui tụ tại Quảng Ngãi, truyền nghề cho thanh niên, đào tạo một thế hệ mới cho dân ca kịch nghệ truyền thống, để cho người Việt trong và ngoài nước, người nước ngoài không phải chỉ nhìn Quảng Ngãi như một vùng địa linh nhân kiệt, nơi sanh trưởng của nhiều chánh khách, danh tướng, mà còn là cái nôi của dân ca, kịch nghệ truyền thống độc đáo, với sự đóng góp của nhiều nghệ nhân lỗi lạc xuất thân từ Quảng Ngãi hiện đang sống tại nhiều nơi trong đất nước.


--------------------------------------------------------------------------------

ĐỊA ĐẠO ĐÁM TOÁI QUẢNG NGÃI:
Địa danh này ở thôn Phú Qúy, xã Bình Châu (Bình Sơn) - nơi quân và dân Quảng Ngãi từng chứng kiến nỗi đau: 66 người là thương bệnh binh, y bác sĩ, hộ lý và nhân dân điều trị, phục vụ tại địa đạo Đám Toái bị quân đội Mỹ giết hại dã man, thân xác vùi sâu dưới lòng đất cách nay 43 năm.
Hàng vạn trái tim thuở ấy ngấn lệ, tiếc thương, ngày đêm cầu nguyện siêu thoát cho 66 con người đã dũng cảm hy sinh vì Tổ quốc...
43 năm - một thời gian quá dài của cuộc chiến tranh tàn khốc đã trôi qua, nhưng ký ức về ngày đau buồn đầy tang thương trên đất nghèo Phú Qúy vẫn còn in đậm, hiện hữu trong tâm trí của những người từng một thời "đấu" cùng bom đạn của kẻ thù trên vùng đất đầy lửa đạn. Những năm kháng chiến, Phú Qúy từng được coi là căn cứ có hệ thống đường hầm dài và rộng nhất ở huyện Bình Sơn, do chính tay người dân và bộ đội xã Bình Châu ngày đêm cật lực đào nhằm phục vụ đánh giặc và né tránh bom mìn của địch oanh tạc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Dưới nền đất của Phú Qúy thời đó có đường hầm sâu, dài hàng cây số.
Địa đạo Đám Toái - nơi tang thương nhất của Phú Qúy thời kháng chiến chống Pháp, Mỹ được đào vào năm 1947. Đến những năm 1962 - 1965, địa đoạ Đám Toái được Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi và Bộ Tư lệnh Quân khu V chọn làm trạm phẫu thuật mang tên gọi A100. Khi đó, tất cả thương bệnh binh ở vùng Đông Sơn Tịnh và Đông Bình Sơn được đưa về A100 cứu chữa và điều trị. Ngày 9/9/1965, quân Mỹ phát hiện địa đạo Đám Toái, tất cả 66 người chưa kịp rời khỏi địa đạo này đã phải hy sinh cùng một giờ. Nhắc đến cái ngày định mệnh đã cướp đi 66 chiến sĩ, cụ Nguyễn Tới - người đang đảm nhiệm việc trông coi địa đạo Đám Toái và cũng là người có mặt gần địa đạo Đám Toái hôm đó nghẹn giọng nhớ lại: "Sáng 9/9/1965, sau khi Mỹ đưa quân vào bãi biển Ba Làng An đã đổ dồn lên đồi Phú Qúy lùng sục rồi phát hiện ra địa đạo. Lúc này trong địa đạo có rất nhiều thương bệnh binh bị thương trên chiến trường đang nằm điều trị. Chúng bao vây địa đạo, đến trưa thì dùng mìn cho nổ ở 3 lỗ thông hơi, đánh sập toàn bộ địa đạo khiến tất cả anh em trong hầm đều tử nạn".
Sau khi đánh sập địa đạo Đám Toái, quân Mỹ rút quân khỏi làng Phú Qúy, quân dân xã Bình Châu dồn hết lên địa đạo Đám Toái với hy vọng mong manh sẽ cứu sống anh em đang nằm dưới địa đạo nhưng đã quá muộn - tất cả họ đều đã hy sinh.
Giờ đây, Phú Qúy sau những tháng ngày bị cày xới bởi bom mìn đã thật sự thay da đổi thịt. Con đường liên thôn được bêtông hoá, cuộc sống của người dân cũng dần khấm khá, cái đói nghèo cũng lùi xa.
Sau 32 năm nằm lại dưới địa đạo, năm 1997, địa đạo Đám Toái được khai quật, 66 chiến sĩ hy sinh hồi đó được đưa lên khỏi miệng hầm rồi lập một nghĩa trang liệt sĩ ngay cạnh địa đạo Đám Toái ghi công. 66 ngôi mộ nhưng hầu như tất cả đều vô danh, chỉ biết được y tá Lâm quê huyện Đức Phổ, y tá Lệ thì không biết chị sinh ra ở vùng đất nào của Tổ quốc.
Trước đó, vào năm 1991, địa đạo Đám Toái được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích quốc gia. Từ năm 1997, địa đạo Đám Toái được phục dựng trở lại như hiện trạng ban đầu với độ sâu dưới lòng đất 5m, rộng 1,4m, cao 1,6m. Một tượng đài được xây ngay trên địa đạo, trên tượng đài khắc họa hình ảnh của y sĩ Lâm và y tá Lệ trước lúc hy sinh. Hiện nay, địa đạo Đám Toái thường xuyên đón nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, dâng hương. 66 liệt sĩ - 66 "bông hoa" của Tổ quốc hy sinh ở địa đạo Đám Toái sẽ mãi tỏa hương...


--------------------------------------------------------------------------------

NÚI RĂNG CƯA QUẢNG NGÃI:
Về Trà Bồng (Quảng Ngãi) nói đến núi Răng Cưa thì dân Cor nơi đây ai ai cũng biết. Núi Răng Cưa thuộc xã Trà Hiệp, hơi chếch về phía Tây bắc huyện Trà Bồng, và bên cạnh huyện Trà Mi của tỉnh Quảng Nam láng giềng. Núi Răng Cưa nổi tiếng không chỉ vì độ cao mà chính là vì hình dạng độc đáo của nó.
Truyện cổ tích dân tộc Cor bản địa kể rằng, xưa có một nàng công chúa con vua trời (Mặt Ngây) xinh đẹp nhưng thích phiêu lưu, thích cưỡi ngựa, bắn cung, đua thuyền. Nàng tâu xin vua cha cho thần mưa phun nước ngập hết khắp nơi, khắp vùng Trà Bồng chỉ còn mấy ngọn núi là nhô đầu lên khỏi mặt nước. Công chúa cùng đoàn nữ tì mặc sức bơi thuyền rong chơi trên mặt nước mênh mông như biển cả. Mỗi lần qua một ngọn núi, nàng đều ngỏ lời xin thần núi cho mình chèo thuyền vượt qua. Lần nào thần núi cũng nể mặt mở cửa cho đi, lâu dần nàng đâm ra hách dịch, cứ tự tiện cho lính mở cửa để băng qua. Ðến lần nọ, thần núi giận lắm, bèn đóng chặt cửa. Mặt ngây cả giận ra lệnh cho ba chiếc thuyền xuyên vút qua núi, núi liền lở thành ba đường mà thuyền chỉ hơi chòng chành. Ba đường do mũi thuyền cắt ra ấy có hình dạng như những chiếc răng cưa của lưỡi cưa nên gọi là núi Răng Cưa.
Khác với nhiều ngọn núi khác, núi Răng Cưa có đến ba đỉnh nhọn hoắt trên đầu núi, gây nên một ấn tượng rất mạnh và khó quên. Ở huyện Trà Bồng, nếu núi Cà Ðam cao nổi tiếng, như là tượng trưng cho dân tộc Cor anh dũng chống giặc ngoại xâm từ những năm ba mươi đến cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi tháng 8/1959, thì núi Răng Cưa lại gắn với huyền thoại và như một hình ảnh tiêu biểu của thiên nhiên nơi đây: lớp lớp núi đồi lớm chởm, sông suối chia cắt vùng đất một cách bạo liệt.
Nhìn núi Răng Cưa, người ta thấy ngay được đặc điểm của cả vùng sông núi Trà Bồng, cũng như đến Trà Bồng, hình ảnh đập ngay vào mắt, rất ấn tượng, chính là núi Răng Cưa.


--------------------------------------------------------------------------------

SUỐI KHOÁNG THẠCH TRỤ QUẢNG NGÃI:
Suối nước khoáng Thạch Trụ còn có tên gọi khác là Thạch Tuyền, ở phía Nam huyện Mộ Đức là một trong 3 nguồn suối khoáng nóng nổi tiếng nhất ở tỉnh Quảng Ngãi. Hai địa chỉ còn lại là suối khoáng Thạch Bích ở xã Trà Bình (Trà Bồng), suối khoáng Mỹ Thịnh ở phía Tây huyện Tư Nghĩa.
Suối khoáng Thạch Trụ đã được biết đến từ rất xa xưa.Năm 1837, đích thân vua Minh Mạng bảo bộ công sai các quan tỉnh cho người đi khảo sát tại chỗ các “suối ấm” ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, trong đó có suối khoáng Thạch Trụ. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Vũng nước nóng... huyện Mộ Đức có một chỗ ở thôn Thạch Trụ, nước thường nóng sôi, nếu đem quăng gà vịt xuống vũng nước ấy, thì nhổ lông được. Chỗ nước ấy tràn ra thì cây cỏ không được tốt tươi”. Suối nước khoáng Thạch Trụ cũng được thực dân Pháp chú ý. Trong tập tài liệu biên soạn về tỉnh Quảng Ngãi, quan công sứ Pháp A.Laborde chép” Lại có một suối nước nóng khác, ở Thạch Trụ (Mộ Đức), suối này, cũng theo ông kỹ sư ấy, là một sự khoáng hoá tương đối quan trọng và nó có thể đem lại lợi ích (1 lít nước suối này có chứa 4g880 nhiều muối khoáng khác nhau mà trong đó có 4g200 chlorure). Những suối nước nóng này đều có nhiệt độ đạt từ 60o và ngay đến 80o; gần suối Thạch Trụ, ở chỗ gọi là núi Nước Mặn, có một miếu nhỏ được dựng lên để thờ Thang Thuỷ Sin Thần (thần Nước Sôi). Trong tập tài liệu xã chí tỉnh Quảng Ngãi viết bằng quốc ngữ năm 1944, cũng có đề cập đến suối Thạch Trụ và cho biết thêm: “Dương thuỷ là mạch nước sôi mặn mà, vì công sứ Daudet và tỉnh lỵ do thấy chữa lành bệnh phong lác nên xin sắc phong, giao cho phụng sự vào ngày 8 tháng 10 năm Duy Tân 7”. Như vậy, tài liệu này đã hé lộ tên vị công sứ Pháp đến Thạch Trụ để chữa bệnh ngoài da ở suối Thạch Trụ chính là Daudet mà vì một lý do “tế nhị” nào đó, viên công sứ kế nhiệm về sau là A.Laborde không tiện nói toạc ra. Và chính sự “lạ lùng” của nước khoáng Thạch Trụ đã khiến y và bọn quan đầu tỉnh tâu xin sắc phong cho suối. Việc sắc phong cho các hiện tượng tự nhiên kỳ diệu, như cho cá ông, cho suối sông... là điều thuở xưa không lạ. Cái lạ đời buồn cười ở đây chính là sự tâu xin sắc phong cho suối, vì suối đã chữa khỏi cái bệnh kỳ cục của quan sứ thực dân!
Quanh suối Thạch Trụ kể cũng nhiều chuyện hay. Người xưa chỉ cảm thấy mùi tanh, độ nóng, sự trong trẻo và tác dụng chữa bệnh của suối và nhìn suối với đôi mắt đầy kính sợ. Ngày nay, khoa học có thể phân tích thành phần, đặc tính của suối khoáng. Ở suối Thạch Trụ đã có xây dựng cơ sở dịch vụ tắm suối, nhưng những người dân ở xa vẫn thích đến tắm trực tiếp ở suối, hay múc nước suối chở về nhà dùng. Suối khoáng Thạch Trụ còn gọi là Thạch Tuyền. Thạch Tuyền mang trong lòng nó sự vi diệu, bí ẩn đáng yêu của tự nhiên.



--------------------------------------------------------------------------------

LÀNG CỔ THIÊN XUÂN QUẢNG NGÃI:
Dấu tích ngôi làng cổ hiện nằm ở chân núi Nứa thuộc thôn Thiên Xuân, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, cách TP.Quảng Ngãi 45 km về hướng tây.
Ngôi làng từng là nơi sinh sống của hơn 40 hộ dân với đầy đủ các thiết chế của ngôi làng cách nay mấy trăm năm về trước đó là cổng làng, cây đa, giếng nước… và dưới lòng những dòng suối được xếp đá khá độc đáo để dẫn nước về làng.
Chu vi của làng gần 2 cây số vuông, toàn bộ ngôi làng được vây bọc bởi một hệ thồng thành bằng đá rất vững chắc, mặt thành rộng 1m cao 2,5m và được gắn kết - móc xích giữa các tảng đá với nhau tạo thành một khối vững chắc mà không cần 1 loại tạp chất nào.
Làng cổ Thiên Xuân nằm sát tỉnh lộ 628 nối với QL24 lên tỉnh Kon Tum, gần di tích Khánh Giang - Trường Lệ và cách Quần thể di tích Đặng Thùy Trâm khoảng 10 km. Đây sẽ là 1 điểm dừng chân lý thú cho du khách khi tham quan tuyến du lịch Theo dòng nhật ký Đặng Thùy Trâm .

QUẦN THỂ DI TÍCH THEO DÒNG NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM:

Liệt sĩ — Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, trong một gia đình trí thức. Tốt nghiệp trường đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường miền Nam. Sau 3 tháng hành quân, tháng 3/1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh viện dân y chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Ngày 22/6/1970 trong 1 chuyến đi công tác từ vùng núi về đồng bằng, chị đã bị địch phục kích và hy sinh lúc chưa đầy 28 tuổi.
Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, Bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã không hề sợ khó khăn gian khổ, bất chấp tất cả mọi nguy hiểm để cứu đồng đội và nhân dân. Mặc dù hàng ngày vẫn đương đầu với mọi thiếu thốn, khó khăn gian khổ thậm chí với cái chết đến bất cứ lúc nào, chị vẫn dành thời gian để ghi lại tình cảm và cuộc chiến đấu chính nghĩa đầy hy sinh trên mảnh đất Quảng Ngãi yêu thương, khiến cho những người lính bên kia chiến tuyến cũng thât sự bị chinh phục.
Ngày 20/2/2006 Liệt sĩ — Bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Quần thể di tích theo dòng nhật ký Đặng Thùy Trâm cách TP.Quảng Ngãi 45 km về hướng nam thuộc xã Phổ Hòa, Phổ Cường, huyện Đức Phổ và xã Ba Trang, huyện Ba Tơ.


--------------------------------------------------------------------------------

KHU LƯU NIỆM CỐ THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG QUẢNG NGÃI:
Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thuộc xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, cách TP.Quảng Ngãi 25 km về phía nam. Đây là nơi sinh ra và lớn lên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Khu lưu niệm này còn lưu giữ nhiều kỷ vật của gia đình Thủ tướng Phạm Văn Đồng như án thờ, tràng kỷ, án thư, phản… và những vật dụng lưu niệm khác; đồng thời tại đây cũng trưng bày một số hình ảnh thể hiện tình cảm của Ông với quê hương Mộ Đức - Quảng Ngãi, cũng như tình cảm của nhân dân Quảng Ngãi đối với Ông.
Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được đầu tư tôn tạo với tổng mức đầu tư là 20 tỷ, diện tích 20.036 m².
Vụ thảm sát Sơn Mỹ xảy ra vào rạng sáng ngày 16/3/1968 do một đơn vị đặc nhiệm quân đội Mỹ tiến hành. Chúng càn quét, đốt phá nhà cửa, ruộng vườn và tàn sát 504 người dân vô tội, trong đó hầu hết là người già, phụ nữ và trẻ em.

THUÊ XE DU LỊCH
THUÊ XE 4 CHỖ
THUÊ XE 7 CHỖ
THUÊ XE 15 CHỖ
THUÊ XE 16 CHỖ
THUÊ XE 24 CHỖ
THUÊ XE 25 CHỖ
THUÊ XE 29 CHỖ
THUÊ XE 30 CHỖ
THUÊ XE 35 CHỖ
THUÊ XE 45 CHỖ
THUÊ XE 50 CHỖ

LỊCH KHỞI HÀNH TOUR TRONG NƯỚC - NỘI ĐỊA
BẢNG GIÁ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH TRONG NƯỚC - DU LỊCH NỘI ĐỊA

Tin liên quan:
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ khách hàng
 
 Tel: 3995 1033 - 3995 1021
 Hotline: 0919.221.009
 Fax: (84-8) 3995 1024
 Emal: huutoan@saigontoserco.com
 ADD: 86/6 Thích Quảng Đức,P5,Q.PN
 
thue xe du lich 4 cho
thue xe du lich 7 cho
thue xe du lich 16 cho
thue xe du lich 25 cho
thue xe du lich 30 cho
thue xe du lich 45 cho
Địa chỉ: 86/6 Thích Quảng Đức, P.5, Q.Phú Nhuận, Tp.HCM.
Tel: (84.8)3995 1033 - 3995 1021 - Fax: (84.8)3995 1024
Hotline: 0919.221.009
Emal: info@saigontoserco.com
Copyright © SaigonToserco.com. All rights reserved.