Tour du lịch | Event | Vé máy bay | Tàu hỏa | Xe du lịch | Khách sạn | Hướng dẫn viên | Visa | Liên hệ  
 
Trang chủ
Tin tức
Danh bạ nhà hàng
Địa danh
54 Dân tộc Việt Nam
63 Tỉnh thành
Ẩm thực
Lễ hội
Cần biết khi đi tour
Hình ảnh
xe du lich tet
xe du lich tet
xe du lich tet
ĐỊA DANHDU LỊCH KON TUM - ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH KON TUM

Kon Tum nằm ở phía bắc vùng Tây Nguyên tọa độ trong giới hạn 13°55’-15°27’ vĩ độ bắc và 107°20’ -108°32’ kinh độ đông, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnhQuảng Ngãi, phía tây có biên giới dài 150 km giáp Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào và 127 km với Vương Quốc Campuchia. Do phần lớn diện tích tự nhiên nằm ở phía đông dãy Trường Sơn nên địa hình Kon Tum nghiêng dần từ đông sang tây và thấp dần từ bắc xuống nam. Phía bắc tỉnh là khối núi Ngọc Linh có độ cao trong khoảng 800-1.200 m, trong đó có đỉnh Ngọc Linh 2.596 m, Ngọc Phan 2.251 m, Ngọc Krinh 2.066 m, Ngọc Bôn Sơn 1.939 m, Kon Bo Ria 1.500 m, Kon Krông 1.330 m. Vùng này là nơi bắt nguồn của nhiều con sông lớn như sông Cái chảy sang Quảng Nam, sông Sê San chảy sang Cămpuchia và sông Ba chảy sang Phú Yên.
Phía nam tỉnh có độ cao trên dưới 500m với độ dốc 2-5%. Từ phía tây Ngọc Linh có một dải thung lũng hẹp chạy đến giữa tỉnh thì mở rộng ra tạo nên cánh đồng bằng phẳng trải dài 50 km tới tận thị xã Kon Tum. Đây là khu vực đồng bằng nằm ở độ cao 252m so với mặt biển và được phù sa hai nhánh sông Se San là sông Đắk Pôkô và Đắk Bla bồi đắp. Cực nam tỉnh có thác Yaly cao 60m đổ sang địa phận Gia Lai. Từ nguồn nước của thác này đã xây dựng trên đất Gia Lai nhà máy thủy điện Yaly công suất 720 MW.


--------------------------------------------------------------------------------

NHÀ MỒ - VĂN HÓA CỔ TÂY NGUYÊN:
Nhà Mồ, và Tượng Mồ, là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền Tây Nguyên (Nam Trung bộ, Việt Nam). Trong thời gian gần đây, truyền thống dựng nhà mồ-tượng mồ chỉ còn thấy tập trung ở các dân tộc Ba na, Ê đê, Gia rai, Mnông, Xơ Đăng.
Nhà mồ được xây trùm trên nấm mộ và là trung tâm của lễ bỏ mả. Nhà mồ có nhiều loại khác nhau. Trang trí nhà mồ thường sử dụng 3 màu: đen, đỏ và trắng.
Tượng mồ là loại tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của vùng đất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc sắc hơn cả.
Kỹ thuật đẽo tượng nhà mồ:
Theo chu trình dựng nhà mồ, để tiến hành nghi lễ bỏ mả, việc đầu tiên của người chủ hộ là đẽo tượng mồ. Ví dụ một ngôi nhà mồ dự định bỏ vào tháng 3 trong năm, thì từ tháng 1 năm đó người chủ hộ đã bắt đầu kiếm gỗ đẽo tượng. Ở những ngôi nhà mồ to đẹp, bề thế trước đây, cột tượng thường được làm bằng loại gỗ tốt như gỗ cây hương, cây cà- chít. Trên đường điền dã tại xã Biển Hồ, thị xã Plâycu những cột tượng bỏ từ năm 1967, cho đến nay, tuy nhà mồ không còn nữa, nhưng những cột tượng vẫn tồn tại. Do yêu cầu, ngôi nhà mồ của người Gia-rai Aráp khi dựng tại khu trưng bày ngoài trời phải bảo đảm tính bền vững, vì vậy cột tượng được đẽo bằng gỗ tốt là gỗ cà- chít, tuy nhiên gỗ đẽo tượng này không được khai thác trong tự nhiên mà mua tại lâm truờng. Vì hiện nay rừng thưa dần do nhiều nguyên nhân: chiến tranh, khai thác không hợp lý, do tập quán đốt rừng canh tác rẫy, những loại gỗ tốt theo đó mà cạn kiệt, người dân không thể kiếm được gỗ tốt. Trên thực tế trong những năm gần đây hầu hết những ngôi nhà mồ khi tiến hành bỏ mả, người Gia-rai sử dụng các loại gỗ tạp, để đẽo tượng, phổ biến là gỗ cây gạo (pơ-lang), vì loại gỗ này mọc nhiều ở vùng người Gia-rai sinh sống, dễ tìm ở xung quanh làng. Theo kinh nghiệm địa phương những cây hương, cây cà-chít có độ tuổi trên 10 năm mới đủ tiêu chuẩn để đẽo tượng vì hai loại cây này phân cành sớm, độ dài của cây nếu chưa đủ tuổi trưởng thành thì không đáp ứng được những yêu cầu của việc đẽo tượng. Những cây gỗ được chọn có độ dài hơn 2 sải tay (1 sải = 160 cm), đường kính lõi khoảng 30 cm. Người Gia-rai dùng rìu, đốn cây, khi đốn xong người ta vận chuyển bằng cách dùng trâu kéo cây từ trong rừng về buôn làng. Việc khai thác gỗ để đẽo tượng có kiêng kỵ, nếu đêm ngủ họ mơ thấy nhà cháy, bến nước cạn kiệt thì sáng hôm sau sẽ hoãn lại việc lấy gỗ, trong khi đi vào rừng lấy gỗ nếu gặp rắn bò ngang qua đường thì họ quay về ngay, người ta cho đó là điềm không lành, dễ có chuyện xấu xảy ra.
Gỗ đẽo tượng được kéo về dựng tại nghĩa địa của làng, bên cạnh ngôi nhà mồ sắp bỏ mả, trước khi đẽo tượng mồ, người Gia-rai có cúng thần nhà rông (yang rôông), thần bến nước (yang ia), xin phép đẽo tượng mồ cho người chết ở trong làng, lễ cúng thường được mổ lợn làm vật hiến sinh. Dụng cụ đẽo tượng hữu hiệu và thông dụng nhất là chiếc rìu (jong), dụng cụ có một đầu lưỡi sắc, một đầu lưỡi tù, cán được tra bằng một thanh gỗ dài. Một loại dụng cụ nữa là cây chà-gạc (loại dao đa năng thông dụng của người Gia-rai) dùng để sửa lại các chi tiết trên mặt tượng. Trong thời gian gần đây phong cách tượng nhà mồ thay đổi, kéo theo những biến đổi về kỹ thuật đẽo tượng. Từ chỗ truyền thống không quan tâm đến thể hiện chi tiết tỷ mỉ, chỉ sử dụng mảng khối trên một thân gỗ cố định, người đẽo chuyển sang xu thế hiện đại thiên về tả thực, gọt đẽo các chi tiết (mắt, mũi, miệng, chân, tay), loại tượng cũng đa dạng hơn trước, mất đi tính mộc mạc nguyên sơ của kiểu tượng truyền thống. Trong một làng của người Gia-rai chỉ có một vài người già biết đẽo tượng đẹp (theo quan niệm của người Gia-rai) và biết làm cho tượng phong phú về mặt loại hình. Theo phong tục của người Gia-rai, thì những người đàn ông chủ hộ thường đẽo tượng cho người chết thuộc gia đình mình, nhưng nhiều trường hợp vì không tin vào khả năng đẽo tượng của bản thân nên họ thường nhờ những người già trong làng có kinh nghiệm và kỹ thuật đẽo giúp.
Người Gia—rai không có số đo chuẩn cho mỗi bức tượng định đẽo, người ta lấy đơn vị đo là sải (tơ-pa) để làm ước lượng. Một bức tượng thường được tính bằng 1 sải rưỡi, 1/2 sải được chôn ở dưới đất là cột chính (byuh) của hàng rào, 1 sải còn lại vừa là phần cột chính nhô lên khỏi mặt đất, phần trên cùng là thân tượng (phun) như thoát ra khỏi cột gỗ đó. Địa điểm đẽo tượng được tiến hành tại khu nghĩa địa, kề ngay sát ngôi nhà mồ chuẩn bị dựng làm lễ bỏ mả. Trong khi đẽo tượng người có kinh nghiệm hơn truyền đạt kỹ thuật, kỹ năng và cách thức đẽo tượng cho người ít kinh nghiệm. Họ không hề giữ bí quyết nào trong cách truyền nghề tạc tượng, những bức tượng trở thành đẹp lại phụ thuộc chính vào "hoa tay" và óc thẩm mỹ của người học nghề và người tiếp thu kinh nghiệm. Việc đẽo tượng cũng có nguyên tắc nhất định, một bức tượng khi hình thành, ngoài việc phản ánh nghệ thuật điêu khắc dân gian, truyền tải những thông tin mang tính chất xã hội của cộng đồng người Gia-rai, về kết cấu lại phải đảm bảo tính vững chắc của hàng rào nhà mồ. Vì bản thân mỗi cột tượng lại đóng vai trò là những cột chính trong hàng rào, để giữ hàng rào chắc chắn bao quanh nhà mồ. Do vậy khi đẽo tượng bao giờ người Gia-rai cũng chủ động tạo ra một khe hở rộng giữa hai chân của bức tượng hình người, khe hở giữa chân và đuôi tượng chim, khe hở giữa hai chân trước và hai chân sau của tượng thú bốn chân. Khe hở đó là nơi xuyên một thanh gỗ dài chạy qua, giống như hệ thống mộng giằng để giữ tất các cột tượng với nhau, và giữ các cột phụ chôn sát cột chính liên kết tạo thành hàng rào.
Quá trình người Gia-rai đẽo tượng, đặc biệt là bức tượng người ôm mặt (kra-kôm), loại tượng được coi là lớp tượng cổ nhất, có thể mô tả như sau: đầu tiên, người thợ dùng rìu, đẽo lấy phần ngực của bức tượng, phần bị đẽo lõm vào của khúc gỗ chính là ngực của bức tượng, sau đó người thợ dùng rìu tạc lấy hai tay của bức tượng người ôm mặt, bằng những nhát bổ trên thân gỗ, hai mảng nổi tiếp giáp nhau là chỗ khuỷu tay và đầu gối sẽ tạo thành một hình thể của người ôm mặt. Khuôn mặt tượng được phạt phẳng, chỗ trán tượng được nhô hơn so với mặt tượng, hai tai được đẽo bằng đường bổ lượn vòng của rìu, phần mắt được khoét bằng với vài nhát đơn giản, sống mũi của tượng nhô lên khi phạt bằng bề mặt tượng. Trước khi hoàn tất công việc, người đẽo dựng đứng bức tượng lên quan sát xem các chi tiết nào trên tượng cần phải sửa chữa. Theo xu thế hiện đại, người ta tu chỉnh mắt, mũi, miệng, tai tượng, với cây chà gạc nhỏ bé. Với các bức tượng có hình dáng khác như: tượng người đánh trống, tượng nam nữ ái ân, tượng chim, thú... cũng được thực hiện theo nguyên tắc trên. Những bức tượng mồ Gia-rai Aráp được đẽo dựng tại hàng rào ngôi nhà mồ của Bảo tàng về kỹ thuật đẽo vẫn giữ nguyên các yêú tố truyền thống như kỹ thuật mà họ vẫn thực hiện tại Tây Nguyên.
Tính nghệ thuật thể hiện trong tượng mồ:
Khi quan sát những bức tượng mồ, người xem có thể nhận ra hình thể của từng bức tượng, qua bàn tay của người nghệ nhân, đều xuất phát từ thân gỗ tròn, vốn là hình dạng ban đầu của mỗi thân tượng. Bằng thủ pháp dùng mảng khối, người Gia-rai chỉ phác hoạ một vài chi tiết trên cơ thể mà làm cho bức tượng bỗng trở nên sống động như có hồn. Khác với tượng của dân tộc Việt, Khmer qua bàn tay của người nghệ nhân tạo thành những bức tượng linh thiêng, đặc biệt khi đặt ở vị trí trang trọng là nơi thờ cúng. Tượng mồ Gia —rai có khác biệt, tượng ra đời từ thiên nhiên, được người Gia-rai đặt trong khung cảnh thiên nhiên, rồi hoà vào thiên nhiên, mặc cho các yếu tố của thời tiết như mưa, nắng, sương gió làm hư hỏng. Khi quan sát tượng mồ với muôn hình, muôn dạng bao quanh lấy ngôi nhà mồ tại khu nghĩa địa, người xem không có cảm giác sợ hãi, cách biệt với thế giới tượng mồ, mà còn cảm nhận được những sinh hoạt quen thuộc vẫn tồn tại và diễn ra hàng ngày trong môi trường sống của người Gia-rai, từ người đi lấy nước, người khóc, người chia cơm lam, người đánh trống… nghệ nhân đem lại cảm giác gần gũi giữa người sống và người chết thông qua thế giới tượng mồ, đồng thời làm tan biến sự sợ hãi của người sống đối với một thế giới khác biệt.
Ở ngôi nhà mồ này, một điểm quan trọng trong nghệ thuật tượng mồ mà người Gia-rai sử dụng là thủ pháp tạo hình, bằng cách dùng các mảng khối hình học và các đường vạch chéo, vạch thẳng để tạo nên hình nét cho bức tượng. Tuân theo những nguyên tắc nghệ thuật như vậy, trong truyền thống người Gia-rai không dừng lại ở việc đẽo gọt các chi tiết tỷ mỉ nhằm lột tả thật chính xác tính chân thực của một khuôn mẫu đã định dạng trong thực tế, mà bằng chính mảng khối, người Gia-rai chỉ gợi lên cho người xem những suy nghĩ tiếp theo. Từ một thân gỗ tròn, không lắp ghép, không thêm thắt bất cứ một phần gỗ nào, người Gia-rai đã tạo ra được bức tượng: bằng vài nhát rìu phạt mạnh trên thân gỗ tạo ra một mặt phẳng hình bầu dục đó là khuôn mặt tượng, hai hình cong nổi lên bên hai đầu là tai, phần dưới mặt tượng được vuốt cho nhỏ hơn đó là cổ. Cả khối phẳng bên dưới là thân tượng, các chi tiết như mắt, miệng, mũi, tai chỉ là những mảnh khoét chìm vào thân tượng. Hầu hết các chi tiết nổi của con người như bụng, má, cằm, ngực, vai... không được đẽo nổi trội lên, mà các phần đó được làm dẹt đi. Làm dẹt đi chứ không làm cho biến đi, mất đi, chỉ gợi lên chứ không đi vào tả thực chi tiết, vậy mà những bức tượng mồ mà người nghệ sỹ Gia-rai thể hiện vẫn làm cho người xem có nhiều suy tưởng. Có thể nói những bức tượng mồ Gia-rai, về mặt nghệ thuật gần với mỹ thuật nguyên thuỷ, có rất nhiều điểm giống với các đặc trưng nghệ thuật từ thời cổ đại của các thị tộc, bộ lạc trên hầu khắp thế giới.
Để làm cho bức tượng mồ trở nên ấn tượng, người Gia-rai còn sử dụng đến màu sắc để trang điểm. Màu sắc là một yếu tố cơ bản tham gia vào nghệ thuật điêu khắc làm nổi rõ hơn khuynh hướng đa dạng trong tạo hình tượng mồ. Trong bảng màu tự nhiên của người Gia-rai có đầy đủ các sắc màu: vàng, đen, trắng, đỏ, xanh... các sắc màu này được lấy ngay từ thiên nhiên trong môi tường sống của họ. Quan sát cách tạo hoa văn trên y phục sẽ thấy người Gia-rai sử dụng màu sắc một cánh hết sức linh hoạt. Từ màu sắc y phục đến màu sắc trên các công trình mang tính chất tôn giáo, người Gia-rai thiên về dùng màu đỏ, màu đỏ vẫn là màu chính, màu chủ đạo, màu đỏ được sử dụng vẽ hoa văn trên mái nhà mồ, tô điểm cho các hoa văn được đục thủng trên nóc mái... Màu đỏ lại một lần nữa được dùng tô điểm cho tượng nhà mồ. Màu đỏ được người Gia-rai tạo ra bằng cách lấy chất bột của một loại đá non (khor) rồi hoà với nhựa của cây po-pẹ để tạo thành thể keo có màu đỏ nhạt, rồi dùng thanh tre đập dập làm bút vẽ cho tượng. Tại một số ngôi nhà mồ ở làng Kép xã Iamnông huyện Chư Pảh tỉnh Gia-lai, người Gia rai trong khi trang trí cho các cột tượng còn lấy ngay máu của trâu, bò - các con vật hiến sinh trong lễ bỏ mả - để bôi lên cột tượng. Ngoài màu đỏ, màu đen cũng được sử dụng để trang trí, màu đen được làm ra bằng cách dùng than củi giã nhỏ, trộn với nước thành thứ nước đen, dùng bút tre vẽ lên thân tượng. Màu đỏ thường được người Gia-rai trang điểm trên các bộ phận như cùi tay, khuỷu chân, đầu gối, màu đen trang trí các bộ phận như tóc, mắt, miệng tượng.
Nghệ thuật tượng mồ còn bắt nguồn từ bản thân sự sống động của mỗi bức tượng. Loại trừ tượng ôm mặt ở tư thế tĩnh còn hầu hết các bức tượng khác đều diễn tả các trạng thái động của con người. Người Gia-rai khi tạc tượng đã làm cho cho từng bức tượng trở nên sinh động như có hồn. Người xem nếu đã một lần đến buôn làng của người Gia —rai, được dự lễ bỏ mả, khi chiêm ngưỡng tượng sẽ có cảm giác như mình đang có mặt tại chính buôn làng của họ với các hoạt động quen thuộc của con người diễn ra trong lễ hội bỏ mả. Nghệ thuật chính là đem đến sự gần gũi thân thuộc của cuộc sống đời thường vào trong tác phẩm nghệ thuật một cách tự nhiên.

TƯỢNG NHÀ MỒ TÂY NGUYÊN:

Lễ bỏ mả là lễ hội lớn nhất và mang tính văn hóa nhất của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Trong đó, nhà mồ và tượng nhà mồ là những tác phẩm kiến trúc và điêu khắc dân gian độc đáo.
Đến các khu nhà mồ bạn sẽ được nhìn thấy rất nhiều những tượng nhà mồ với hình thức và trạng thái khác nhau. Song tụ lại ở một điểm chung đó là chúng đều diễn tả về sự sinh thành. Cũng như nhiều dân tộc trên thế giới, ở Tây Nguyên, nghi thức sinh thành cũng được quan niệm và thể hiện qua hành động giao hoan. Mặc dù, nghi thức đó hiện nay không còn nữa, nhưng theo lời kể của các cụ già trước đây, vào những đêm bỏ mả trai gái được tự do quan hệ tình ái.
Thế nhưng, tại sao người ta lại làm tượng nhà mồ? Nếu hỏi các đồng bào dân tộc ở đây thì họ sẽ cho rằng làm tượng để trang trí thêm cho nhà mồ. Nhưng nếu quan sát kỹ bạn sẽ thấy hầu như toàn bộ cuộc sống của con người đều được thể hiện một cách sinh động qua các tác phẩm tượng này. Từ đó, có thể nói rằng chính các tượng mồ là để phục vụ cho người đã chết ở thế giới bên kia. Cũng có quan niệm cho rằng, như nhiều nơi khác trên thế giới, xưa kia ở vùng Tây Nguyên này, một khi vị tù trưởng mất thì tù binh đều được chôn theo. Giờ đây, người Tây Nguyên tạc lên tượng nhà mồ những con người hay những con vật với ước muốn những con người và vật đó sẽ theo hầu hạ người chết ở thế giới bên kia.
Về các loại tượng nhà mồ thì có thể chia làm hai lớp tượng. Lớp đầu tiên là hình ảnh phổ biến nhất trong tất cả các nhà mồ: tượng giao hoan, đàn bà chửa và hài nhi được thể hiện cùng một lúc trên một mặt phẳng của lối rào quanh mồ. Lớp thứ hai là hình tượng những con người, con vật như người người đánh trống, cô gái, chàng thanh niên, cầu thủ đá bóng, con voi, con chim, con cú... Tất cả những hình tượng đó được đặt quanh nhà mồ và tạo ra cmột bức tranh sinh động về cuộc sống để người chết sẽ mang đi sau lễ bỏ mả.
Theo dòng thời gian, các bức tượng nhà mồ này mang tình hiện thực hơn. Cái thực ấy được thể hiện chủ yếu bằng các nét, các khối mang tính khái quát cao. Và cũng chính những đặc tính ấy mà tượng nhà mồ đã góp phần tạo nên nét hoành tráng cho riêng mình.


--------------------------------------------------------------------------------

NHÀ THỜ GỖ KON TUM:
Nhà thờ gỗ Kon Tum xây dựng năm 1913, do một linh mục người Pháp tổ chức thi công nằm ở thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, là một điểm du lịch hấp dẫn cho nhiều du khách đến vùng đất Kon Tum.
Nhà thờ tọa lạc trên một diện tích rộng với nhiều công trình liên hoàn khép kín: nhà thờ - nhà tiếp khách - nhà trưng bày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo - nhà rông. Ngoài ra, trong khuôn viên nhà thờ còn có cô nhi viện - cơ sở may, dệt thổ cẩm - cơ sở mộc, thu hút hàng chục lao động làm việc từ thiện . Từ xa, Nhà thờ là một công trình kiến trúc hoàn toàn bằng gỗ làm theo kiểu Roman du khách đã có thể thấy tháp chuông nhà thờ cao sừng sững trên nền trời. Bên trong, cột và các giàn gỗ được lắp ghép khít khao. Trần nhà xây dựng bởi rui, mè tre, đất và rơm, đã hơn 80 năm trôi qua vẫn bền, đẹp. Cung thánh nhà thờ được trang trí theo hoa văn các dân tộc ít người Tây Nguyên, trang nghiêm và gần gũi.
Đến đây, du khách sẽ ngạc nhiên bởi công trình lớn, đep, điệu nghệ như vậy mà được xây dựng hoàn toàn bằng phương pháp thủ công dưới những bàn tay tài hoa của người thợ. Nhà thờ còn đẹp hơn bởi khu hoa viên có nhà rông cao vút, các bức tượng được tạo nên bằng rễ cây, mang bản sắc văn hóa riêng của đồng bào các dân tộc. Du khách có thể tham quan trong khuôn viên nhà thờ, cơ sở dệt thổ cẩm chính người dân tộc bản địa và uống rượu dau, rượu nho do các nữ tu sĩ chế biến.
Nhà thờ gỗ Kon Tum ngoài giá trị về kiến trúc văn hóa, còn là nơi hấp dẫn du khách bởi các yếu tố nhân văn.


--------------------------------------------------------------------------------

DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG NGỤC KON TUM:
Từ đường Phan Đình Phùng, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum rẽ vào đường Cách Mạng khoảng 800 mét, ngục Kon Tum hiện lên trang nghiêm với hàng bách, xà cừ cao vút.
Một quần thể nhà tưởng niệm, nhà truyền thống, nhà đón tiếp, cụm tượng đài và hai ngôi mộ nằm bên sông Đăk Bla lộng gió, dẫn dắt người tham quan về với quá khứ đấu tranh kiên cường bất khuất của các bậc tiền bối cách mạng, thì nước nhà con trong xích xiềng nô lệ.
Năm 2000, được sự hỗ trợ của trung ương và địa phương, tỉnh Kon Tum đã đầu tư chỉnh trang, tôn tạo và xây dựng lại khu du lịch, xứng đáng với di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia, được bộ văn hóa - thông tin xếp hạng.
Khu di tích trở thành nơi hành hương, thăm viếng của các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước, của nhân dân và các đoàn khách trong và ngoài nước khi đến Kon Tum.


--------------------------------------------------------------------------------

LÀNG BA NA KON TUM:
Dân tộc Ba Na là một trong ba dân tộc bản địa đông người nhất ở Tây Nguyên, họ sống nhiều nhất ở tỉnh Kon Tum.Ba Na Kon Tum là tên cộng đồng người Ba Na tập trung ở thị xã Kon Tum. Theotiếng Ba Na thì Kon nghĩa là làng, Tum nghĩa là hồ, ao. Kon Tum là làng có nhiều ao, hồ.
Đến thăm làng Ba Na, du khách sẽ nhìn thấy những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu. Người Ba Na là dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên biết dùng chữ viết trong đời sống và dùng trâu bò để cày ruộng. Tuy nhiên họ cũng chưa biết tổ chức cuộc sống khoa học, gạo chỉ giã đủ ăn từng ngày. Trước đây người Ba Na có truyền thống săn bắn giỏi, tới gia đình nào bạn cũng có thể nhìn thấy có vài cáinỏ bằng gỗ rất chắc.
Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, giữa sàn nhà người Ba Na là bếp lửa luôn luôn đỏ than. Bếp cũng là trung tâm sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình.
Đàn ông Ba Na thường có vết sẹo ở ngực. Đó là vết tích do họ tự gây nên bằng cách lấy lửa hoặc than hồng dí vào ngực khi trong nhà có người chết, để tỏ lòng thương tiếc người quá cố.


--------------------------------------------------------------------------------

DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG ĐIỂM CAO 601 KON TUM:
Cách thị xã Kon Tum 17 km về phía Bắc theo quốc lộ 14, có một địa danh mà trong chúng ta hẳn nhiều người biết đến, đó là dốc Đầu Lâu. Dốc Đầu Lâu là tên gọi dân gian mới có từ sau ngày xảy ra chiến sự tháng 4 năm 1972 giữa quân cách mạng và quân địch. Người Ba Na ở vùng này gọi địa danh đó là Kon Loong Phă, có nghĩa là dốc có nhiều cây trắc và điểm cao 601 là thuật ngữ quân sự gọi cứ điểm quân sự của địch trên đồi KRang Loong Phă.
Cho đến đầu năm 1972, điểm cao vẫn là một chốt điểm quân sự quan trọng của địch, gồm có trận địa pháo binh và xe tăng được bố trí trên hai mỏm đồi hình yên ngựa. Phía Bắc có đồn bảo an Hà Mòn do tiểu đoàn bảo an số 23 đóng giữ có xe thiết giáp tăng cường. Phía có sở chỉ huy lữ đoàn dù 3, trận địa pháo lớn, xe tăng, xe bọc thép chốt giữ. Ngoài ra còn có các trận địa pháo, đồn bảo an của địch ở Kon Trang Klả, Bãi Ủi, phía Bắc thị xã Kon Tum... Với vị trí chiến lược quân sự quan trọng, chiếm được điểm cao 601 là khống chế được phần lớn thị xã Kon Tum cũng như toàn bộ vùng Đăk Tô - Tân Cảnh. Chiếm được điểm cao 601 là làm chủ được hoàn toàn con đường chiến lược 14, đoạn phía Bắc Tây Nguyên.
Nhận rõ được tầm quan trọng của điểm cao 601, ta quyết tâm đánh chiếm, về phía địch chúng cũng bằng mọi cách cố thủ. Trong hai ngày: ngày 10 tháng 4 năm 1972 và ngày 11 tháng 4 năm l972, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ta đã thắng lớn tại điểm cao 601.
Kể từ sau ngày kí hiệp định Paris (từ đầu năm 1973 đến năm 1975), khu vực điểm cao 601, dốc KRang Loong Phă (dốc Đầu lâu) và toàn bộ khu vực Đăk La, Hà Mòn là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Tại đây đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh chính trị gay gắt quyết liệt, có khi phải dùng cả vũ trang quân sự để giành từng tấc đất với địch: với chủ trương đúng đắn của cấp trên cộng với trí thông minh mưu lược và lòng dũng cảm của quân và dân ta, mặc dù phải chịu nhiều gian khổ hi sinh, nhưng ta đã giữ vững được toàn bộ vùng giải phóng Đăk Tô - Tân Cảnh đến Diên Bình, Hà Mòn và kiểm soát được khu vực Đăk La góp phần giải phóng thị xã Kon Tum vào mùa xuân 1975.
Trong những năm qua, bảo tàng tổng hợp tỉnh Kon Tum đã lên danh mục di tích trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó điểm cao 601 là một điểm di tích lịch sử cách mạng được lãnh đạo tỉnh cũng như ngành văn hóa rất quan tâm. Thời gian qua, bảo tàng tỉnh đã tiến hành lập hồ sơ khoa học cho di tích lịch sử điểm cao 601 để đề nghị xếp hạng. Mặc dù chậm trễ, nhưng đây là một việc làm thật sự có ý nghĩa. Đã hơn 30 năm sau sự kiện chiến thắng điểm cao 601, do tác động của con người, do môi trường tự nhiên khắc nghiệt, di tích chỉ còn là dấu tích tuy vậy nó vẫn còn đầy sức thuyết phục.


--------------------------------------------------------------------------------

DI CHỈ KHẢO CỔ HỌC LUNG LENG KON TUM:
Di chỉ khảo cổ học Lung Leng nằm ở thôn Lung Leng, xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Lung Leng đã cung cấp một hệ thống di tích và hiện vật vô cùng phong phú. Bước đầu, một xã hội Tây Nguyên thời tiền sử đã tái hiện.
Qua khai quật, người ta thấy Lung Leng là di chỉ có tầng văn hóa nguyên vẹn phản ánh các giai đoạn phát triển cơ bản từ thời đại đá cũ đến thời đá mới, qua thời kì kim khí, thậm chí cả thời kì trung đại. Dấu tích cư dân hậu kỳ đá cũ tìm thấy trong lớp đất laterite hóa ở dưới độ sâu từ 1,4 mét đến 1,6 mét với những công cụ ghè đẽo thô sơ, kích thước lớn làm từ cuội thạch anh hoặc đá bazan như các công cụ mũi nhọn, công cụ chặt rìa lưới dọc, công cụ nạo hình múi bưới. Kết quả phân tích niên đại cho thấy lớp đất này tương ứng với thời kỳ cách tân (pleistocene) cách đây trên một vạn năm.
Gần chúng ta hơn, ngay lớp đất trên là vết tích văn hóa hậu kì đá mới - sơ kì kim khí, tương ứng với niên đại toàn tân (holocen), từ 2.000 năm đến 4.000 năm trước. Đây là nơi tập trung với mật độ cao nhiều loại hình di vật, di tích như rìu bôn đá mài toàn thân, bàn mài, hòn ghè, hòn nghiền, đồ gốm, than tro, lọ nung, mộ táng...
Qua khai quật hàng loạt, phát hiện mới được ghi nhận, đặc biệt là di cốt và dấu vết vỏ trấu, cho thấy tục táng người chết của cư dân cổ, đồng thời xác nhận nghề trồng lúa đã xuất hiện rất sớm tại Tây Nguyên.
Những phát hiện bước đầu ở Di chỉ khảo cổ học Lung Leng đã được giới thiệu nghiên cứu, khảo cổ đánh giá cao. Mới đây, thủ tướng chính phủ đã có quyết định giao cho trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quốc gia phối hợp với bộ khoa học - công nghệ và bộ văn hóa - thông tin... tiếp tục triển khai thực lên giai đoạn 2 (đánh giá, phân loại, bảo quản di vật và hồ sơ khoa học) dự án “Khai quật di chỉ Lung Leng (Kon Tum)” thuộc dự án “Thủy điện YaLy”.
Di chỉ khảo cổ hạc Lung Leng là một trong những di sản văn hóa lớn của cả nước. Qua di chỉ văn hóa này, chứng tỏ người tiền sử đã có mặt, sinh sống ở đây từ trước một vạn năm.


--------------------------------------------------------------------------------

DI TÍCH CHIẾN THẮNG ĐĂK TÔ - TÂN CẢNH KON TUM:
Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, Đăk Tô - Tân Cảnh là căn cứ quân sự mạnh nhất của Ngụy quyền Sài Gòn ở Bắc Tây Nguyên. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng được bố trí ở dãy cao điểm phía Tây sông Pôcô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa.
Về lực lượng quân đội ta, gồm các trung đoàn chủ lực của Tây Nguyên: trung đoàn 28, trung đoàn 66, trung đoàn 95, trung đoàn 24B (sư đoàn 10 - Đoàn Đăk Tô ngày nay) phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum.
Đúng 15 giờ ngày 23 tháng 4 năm 1972, pháo binh ta nã đạn dồn dập vào căn cứ Tân Cảnh, cứ điểm mạnh nhất của địch. Vào lúc 1 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, xe tăng T54 xông thẳng qua thị trấn Tân Cảnh, lao lên mở cửa phía Đông căn cứ Tân Cảnh. Chớp thời cơ địch còn hoảng sợ khi thấy xe tăng ta, tiểu đoàn 9 cùng đội công tác tỉnh Kon Tum kêu gọi nhân dân nổi dậy.
Vào lúc 5 giờ 55 phút ngày 24 tháng 4 năm 1972, thị trấn Tân Cảnh được giải phóng. Lúc này cuộc chiến đấu ở căn cứ E42 Tân Cảnh diễn ra dữ dội. Xe tăng T54 - 377 của ta đã tiêu diệt 7 xe tăng địch. Quân ta dần dần làm chủ tình hình. Vào lúc 11 giờ trưa ngày 24 tháng 4 năm 1972, trung đoàn 66 của ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Tân Cảnh. Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 li, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh Ngụy.
Ngay khi Tân Cảnh sắp bị tiêu diệt, bộ tư lệnh quân giải phóng mặt trận cánh Đông đã cho pháo binh bắn phá căn cứ Đăk Tô 2 (sân bay Phượng Hoàng). Vào lúc 8 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, E1 (F2) đánh thẳng vào sở chỉ huy E47 ngay ở sân bay Phượng Hoàng, 4 xe tăng T54 và một pháo tự hành cấp tốc rời căn cứ Tân Cảnh chi viện cho mũi tấn công tại căn cứ Đăk Tô 2. Sức kháng cự của E47 ngụy nhanh chóng bị đè bẹp, quân ta làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.
Cụm phòng ngự mạnh của địch ở căn cứ Tân Cảnh - Đăk Tô 2 bị tiêu diệt. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Blêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận Đăk Tô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến Đăk Tô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kon Tum được giải phóng.
Ngày nay, đi qua căn cứ E42 Đăk Tô - Tân Cảnh ngày xưa, du khách thấy sừng sững một bia tưởng niệm về chiến tích anh hùng của quân dân ta thời chống giặc cứu nước. Gần đây, tỉnh đã đầu tư xây dựng cụm tượng đài chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh rất hùng tráng. Bên cạnh tượng đài là hai chiếc xe tăng cách mạng đã từng tham gia trận đánh năm 1972. Khu di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia (1993).


--------------------------------------------------------------------------------

CHỦNG VIỆN THỪA SAI KON TUM:
Chủng viện thừa sai Kon Tum nằm tại số 56, đường Trần Hưng Đạo, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, cách chợ Kon Tum khoảng 15 phút đi bộ. Chủng viện thừa sai là nơi dành riêng cho những ai muốn trở thành linh mục. Thời gian tu ở đây là 6 năm tiểu học, 4 năm trung học, 4 năm học thần học rồi thì mới trở thành linh mục.
Toa chủng viện do đức cha Marital Junrin Phước - người sáng lập hội Thừa Sai Kon Tum được cho xây dựng từ năm 1935 đến năm 1938 thì hoàn thành. Cha là người Pháp theo dòng thừa sai (sai thì đi đâu đó) lập ra để dạy bảo tín đồ khi sai đi đâu thì đi đó và phục vụ. Toa chủng viện mang phong cách kiến trúc Pháp và kiểu dáng nhà rong của dân tộc Tây Nguyên, nhân công là những người Việt sống tại Kon Tum.
Trước năm 1975, phía trước chủng viện là nghĩa trang. Người xây dựng có ý muốn nhắc nhở các tu sĩ rằng trước mặt họ là cõi chết để họ dốc lòng vào việc tu hành và làm nhiều đieu tốt cho mọi người. Các cha xứ giảng đạo cũng là những người dân tộc và được đào tạo trong dòng thừa sai. Cha xứ giảng dạy bằng tiếng Ba Na để người đồng bào có thể nghe và hiểu cũng như thực hiện những quy định của đạo giáo đưa ra. Vào thờ đó có 200 chủng sinh tu tại đây nhưng sau năm 1975 chủng viện ngưng hoạt động .Hiện nay, nơi đây chỉ dành cho các cha ở. Vào những ngày lễ lớn, các cha sẽ đến làng cử hành Thánh lễ và lo tổ chức lễ mừng phục sinh và giáng sinh.
Tại sao ở Kon Tum lại có dòng thừa sai? Tại sao ở Kon Tum lại có nhà thờ của người Ba Na? Rất dễ hiểu vì khi người Pháp đến Việt Nam thì người dan đồng bằng đã có tôn giáo riêng của mình và hầu như tất cả đều theo Phật giáo. Họ không thể nào lôi kéo người dân theo đạo của mình được nên lên những vùng cao xa xôi và hẻo lánh, nơi mà người dân không theo một đạo nào chính thống mà chỉ thờ cúng đa thần, để việc truyền đạo dễ hơn. Hơn thế nữa, vùng đất Tây Nguyên lại được người Pháp coi như “nóc nhà của Đông Dương” và đặt nền thống trị. Do đó các cha truyền đạo đã đi đến nơi đây để có thể truyền đạo một cách dễ dàng hơn.
Qua cổng bảo vệ, bước vào bên trong chủng viện hai bên là những hàng bông sứ rất đep. Tòa chủng viện dài 100 mét, cao 3 tầng. Tầng trên để thờ, tầng giữa để nghỉ ngơi, tầng trệt để xe. Gian giưa của chủng viện có phòng trưng bày về lịch sử truyền giáo tại Kon Tum từ năm 1848. Nơi đây có tất cả hiện vật đồ cổ, những tượng gỗ dựng cảnh sinh hoạt của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, những công cụ của người xưa, những tấm ảnh chụp từ những năm 1912 - 1913 trắng đen về cảnh Tây Nguyên xưa. Có thể nói phòng trưng bày truyền thống này có thể ví như một bảo tàng thu nhỏ về đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số chính đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Kon Tum như: dân tộc Ba Na, dân tộc Xơ Đăng... Sau khi liên hệ tại văn phòng giám mục, mặc dù đi một đoàn hay chỉ đi một mình thì cũng sẽ có người thuyết minh. Chủng viện thừa sai là một nơi đáng để du khách tham quan khi bạn đến thị xã Kon Tum.


--------------------------------------------------------------------------------

CẦU TREO KONKLOR KON TUM:
Cầu treo Konklor thuộc địa phận làng Konklor, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Cầu nối liền hai bờ của dòng sông Đăk Bla huyền thoại. Đến đây, du khách có thể ghé thăm làng dân tộc Ba Na Konklor ở hữu ngạn dòng sông, uống với họ can rượu cần rồi lên đường vượt dòng sông qua cầu treo để đến một vùng đất phù sa trù phú. Đó là những vườn chuối, vườn cà phê và các loại cây ăn quả. Vượt con đường quanh co khoảng 6 km, du khách đến làng Konkơtu, một làng dân tộc Ba Na còn giữ nguyên được những nét sinh hoạt và cảnh vật thiên nhiên hoang sơ. Làng du lịch văn hóa Konkơtu có nhà rông cao, đẹp. Du khách sẽ được thỏa mãn nhu cầu ngủ lại qua đêm, tham gia các sinh hoạt giao lưu văn hóa, uống rượu cần, nghe kể Khan bên bếp lửa bập bùng cùng người dân bản địa. Khi từ biệt làng trở về, chắc chắn du khách sẽ thấy hài lòng và những món quà lưu niệm do bàn tay khéo léo của người dân ờ đây làm bằng vật liệu từ núi rừng.


--------------------------------------------------------------------------------

THẮNG CẢNH MĂNG ĐEN KON TUM:
Nằm ở độ cao từ 1.100 mét đến 1.400 mét so với mặt biển, cách thị xã Kon Tum hơn 50 km, giữa ngút ngàn thông và hoa rừng, Măng Đen lúc nào cũng se se lạnh và tĩnh lặng giữa đại ngàn... Được coi là “Đà Lạt của Kon Tum”, Măng Đen theo tiếng bà con dân tộc Mnông nơi đây có nghĩa là chỗ đất bằng phẳng (“măng” là bãi bằng, đất bằng; “đeng” - chứ không phải “đen” - là chỗ ở). Trên bình nguyên Măng Đen có nhiều “toong” (hồ) như: toong Đăm, toong Ki, toong Lung... nhiều “cơi” (thác) như: cơi Tram, cơi Pa Sĩ, cơi Đăk Ke... tung bọt trắng xóa giữa núi rừng trầm mặc khiến Măng Đen càng thêm thơ mộng và huyền hoặc.
Đến đây du khách như thấy mình lạc vào xứ sở khác sau khi vượt qua một chặng đường dài. Rừng thông mênh mông, có cây được trồng từ thời Pháp thuộc to, cao vút trời xanh. Thông ở đây phát triển mạnh bởi chất đất đỏ bazan rất màu mỡ. Khí hậu ôn đới, mát mẻ quanh năm.
Măng Đen có dòng sông Đăk Ne hiền hòa, mát rượi; cỏ nhiều hồ nước trong xanh, nhiều tôm cá. Nếu lấy trung tâm huyện Kon Plông làm tâm điểm thì các hồ, thác ở đây đều nằm trong vòng bán kính 10 km trở lại, có nghĩa là khá tập trung để vui chơi thưởng ngoạn. Đặc biệt là hồ Đăm rộng khoảng 2 hecta, cách sân bay Măng Đen chừng 500 mét, vào mùa khô hoa mua, hoa sim nở tím ven hồ. Xung quanh hồ là rừng thông, lá thông trải một lớp thảm dày từ 10 cm đến 15 cm mượt mà như nhung. Tiêu biểu là hồ Lung rộng khoảng hơn 1 hecta, xung quanh còn những thân cây cổ thụ hai, ba người ôm không xuể, rừng ven hồ có rất nhiều phong lan, hồ Ly Leng rộng khoảng 2 hecta; hồ Zin rộng khoảng 1 hecta; hồ Chàng (toong Dăm) rộng 2,5 hecta. Các hồ: hồ Pô, hồ Jri, hồ Săng, hồ Rpoong... hẹp hơn, nhưng lại rất đẹp.
Măng Đen còn có một hệ thực vật phong phú, đa dạng với loại rừng lá kim, rừng hỗn giao, nhiều loài gỗ quý. Măng Đen không chỉ có tiềm năng về du lịch mà còn là vùng đất nhiều chiến công cách mạng trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Khu du lịch Măng Đen được bộ văn hóa - thông tin xếp hạng là khu di tích lịch sử, danh thắng. Măng Đen hiện vẫn còn giữ được vẻ đẹp ban sơ hiếm có. Tổng cục du lịch và chính quyền địa phương đã lập dự án qui hoạch khu du lịch Măng Đen, kêu gọi các nguồn vốn đầu tư để biến nơi đây thành điểm du lịch sinh thái và nghỉ mát hấp dẫn trong tương lai.

THUÊ XE DU LỊCH
THUÊ XE 4 CHỖ
THUÊ XE 7 CHỖ
THUÊ XE 15 CHỖ
THUÊ XE 16 CHỖ
THUÊ XE 24 CHỖ
THUÊ XE 25 CHỖ
THUÊ XE 29 CHỖ
THUÊ XE 30 CHỖ
THUÊ XE 35 CHỖ
THUÊ XE 45 CHỖ
THUÊ XE 50 CHỖ

LỊCH KHỞI HÀNH TOUR TRONG NƯỚC - NỘI ĐỊA
BẢNG GIÁ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH TRONG NƯỚC - DU LỊCH NỘI ĐỊA

Tin liên quan:
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ khách hàng
 
 Tel: 3995 1033 - 3995 1021
 Hotline: 0919.221.009
 Fax: (84-8) 3995 1024
 Emal: huutoan@saigontoserco.com
 ADD: 86/6 Thích Quảng Đức,P5,Q.PN
 
thue xe du lich 4 cho
thue xe du lich 7 cho
thue xe du lich 16 cho
thue xe du lich 25 cho
thue xe du lich 30 cho
thue xe du lich 45 cho
Địa chỉ: 86/6 Thích Quảng Đức, P.5, Q.Phú Nhuận, Tp.HCM.
Tel: (84.8)3995 1033 - 3995 1021 - Fax: (84.8)3995 1024
Hotline: 0919.221.009
Emal: info@saigontoserco.com
Copyright © SaigonToserco.com. All rights reserved.